Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) đang tài trợ cho rất nhiều dự án tại các quốc gia khác nhau. Do đó, IFAD đã thiết lập một hệ thống toàn diện để đánh giá và báo cáo về các kết quả và tác động của các chương trình quốc gia. Để đơn giản việc thu thập dữ liệu, phân tích và báo cáo về các chỉ số tác động, IFAD đã hướng dẫn các dự án thực hiện các cuộc khảo sát tác động đánh giá đầu kỳ, giữa kỳ, cuối kỳ và các cuộc điều tra, đánh giá hàng năm.
Dự án phân cấp giảm nghèo (DPPR) tỉnh Hà Giang triển khai thực hiện từ năm 2005. Cuộc điều tra đầu kỳ được tiến hành vào năm 2006, dự án không tiến hành cuộc khảo sát giữa kỳ do cuộc khảo sát đầu kỳ diễn ra muộn 1 năm, (do IFAD có hướng dẫn muộn). Năm 2009 dự án DPPR thực hiện cuộc điều tra hàng năm lần thứ 3. Số hộ được điều tra là 360 hộ ở 20 thôn được lựa chọn từ 352 thôn của 45 xã dự án.

Mục tiêu của cuộc điều tra khảo sát năm 2009 là thu thập các thông tin về kinh tế xã hội của hộ gia đình trong vùng dự án để đánh giá mức độ chuyển hoá từ Đầu ra đến Kết quả do các hoạt động của dự án đã đầu tư. Trước khi tiến hành cuộc điều tra, BQL tỉnh đã tổ chức tập huấn cho cán bộ điều tra trong 3 ngày từ 18 đến 20/8. Tham gia lớp học có 49 học viên (gồm cán bộ điều tra và giám sát). Ban quản lý (BQL) dự án tỉnh đã tiến hành các công việc chuẩn bị như: Xây dựng khung mẫu, chọn 20 thôn cụm mẫu; Xây dựng điều khoản tham chiếu cho cuộc điều tra; Lập kế hoạch. Bảng hỏi cho cuộc điều tra khảo sát năm 2009 được bổ sung và điều chỉnh cho sát với các hoạt động do dự án đầu từ năm trước. Cán bộ điều tra là cán bộ của BQL huyện, xã. Mỗi huyện thành lập một tổ điều tra. Mỗi tổ điều tra có từ 3 đến 6 nhóm, mỗi nhóm có 2 thành viên. Phó BQL huyện và cán bộ theo dõi đánh giá chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát quá trình điều tra ở các cụm mẫu trong huyện của mình. Tổng số cán bộ tham gia điều tra và giám sát là 49 người. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của cán bộ xã, thôn.

Cuộc điều tra khảo sát diễn ra trên hiện trường từ ngày 21/8 đến 01/9. Thời gian dành cho mỗi cụm mẫu là 2 - 3 ngày bao gồm cả thời gian di chuyển, phỏng vấn, kiểm tra số liệu và hoàn thiện bảng hỏi. Việc nhập liệu và phân tích số liệu trên phần mềm SPSS, báo cáo được hoàn thành vào cuối tháng 10.
Cũng như các năm trước, quá trình điều tra trên hiện trường năm 2009 cũng gặp không ít khó khăn, tuy nhiên các cán bộ điều tra đều tìm cách khắc phục. Ông Tạ Quang Bắc, cán bộ M&E huyện Yên Minh cho biết: “đường đến các thôn của huyện Yên Minh có địa hình rất phức tạp, đang là mùa mưa nên đường trơn trượt, nhiều khi phải trèo đèo, lội suối, mất cả vài giờ”. ông Hà Văn Tuyến, phó ban quản lý huyện Đồng Văn cũng cho biết thêm: “người dân sống rải rác nên việc đi lại mất rất nhiều thời gian, đa số người Mông, nhất là phụ nữ không nói được tiếng phổ thông nên phải có phiên dịch, việc chuyển tải một số nội dung câu hỏi từ tiếng phổ thông sang tiếng địa phương gặp không ít khó khăn”.

Các huyện Xín Mần, Quang Bình, Mèo Vạc cũng có khó khăn tương tự. Ngoài ra còn có một số khó khăn như: số đông người dân tính tuổi theo âm lịch và thường chỉ nhớ tên con vật của năm mà không nhớ số năm, do vậy nên cán bộ điều tra phải thảo luận lại với người dân và tính toán, quy đổi ra dương lịch. Nhiều người dân không nhớ diện tích gieo trồng và sản lượng thu được bao nhiêu. Phần lớn họ chỉ nhớ diện tích gieo trồng bằng kilogram giống, bằng bơ giống và sản lượng thu được bằng số lượng sọt, bung, bao... do vậy cán bộ điều tra phải tính toán và quy đổi ra đơn vị chuẩn. Một khó khăn lớn nhất là người dân không nhớ chính xác số lượng gieo trồng, số lượng thu hoạch, mặt khác tỷ lệ quy đổi từ đơn vị địa phương sang đơn vị chuẩn giữa các thôn là không giống nhau. Để khắc phục được các khó khăn đó, các cán bộ điều tra đã phải kiên nhẫn phỏng vấn, tính toán để có con số chính xác.

Sau khi phân tích kết quả điều tra năm 2009, đã cho thấy có một số thay đổi như sau: có 25,6% hộ thiếu đói có an ninh lương thực được cải thiện; 46,1% hộ có diện tích gieo trồng tăng thêm; 64,7% hộ sử dụng giống ít nhất 1 giống cải tiến trong các cây nông nghiệp, 5% hộ sử dụng giống cải tiến trong chăn nuôi; 91,6% hộ áp dụng kiến thức lớp tập huấn vào thực tế; 46,2% hộ có diện tích, sản lượng cây nông nghiệp tăng thêm; 35% hộ có gia súc tăng thêm; 39,9% hộ có đủ nước cho sản xuất lúa trong cả vụ và có 73,3% hộ có đủ nước sinh hoạt cả năm; 93,3% hộ có thu nhập bình quân trên người là 117.826 đồng/người/tháng, trong đó 30,36% có thu nhập dưới 200.000 đồng/tháng.
Kết quả trên cho thấy tình hình phát triển kinh tế xã hội ở các thôn, xã dự án đã có tiến triển so với các năm trước. Dự án đã phát huy được hiệu quả từ việc đầu tư các hoạt động, góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của các xã, huyện dự án.
Thu Hằng – KMO – DPPR Hà Giang








0 comments:
Post a Comment