Pages

Nâng cao năng lực cho các Nhóm cộng đồng cùng mục tiêu (CIGs) và liên kết họ với thị trường là một trong những hướng đi thành công của dự án IMPP-TV. Sản xuất gắng kết với thị trường chính là nhân tố quan trọng trong nổ lực xóa đói giảm nghèo bền vững”, ông Peter, tư vấn IFAD, nhận định sau chuyến thăm thực địa đến hai tổ hợp tác trồng lúa vừa mới được thành lập tại ấp 3 và 4 của xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè.

Xe ô tô đưa chúng tôi đến vùng quê nghèo của xã Thạnh Phú trong một buổi chiều mát mẻ. Hình ảnh đầu tiên xuất hiện trước mắt chúng tôi là một cánh đồng bao la. Theo lịch trình, ông Peter và chúng tôi sẽ đến thăm tổ hợp tác Phú Thạnh Hưng tại ấp 4 và Đồng Tiến, ấp 3.

Tiếp chúng tôi trong không khí ấm áp và thân thiện, anh Nguyễn Văn Phòng - chủ nhiệm tổ hợp tác Phú Thạnh Hưng phấn khởi cho chúng tôi biết về thành công bước đầu của tổ mình: “Vụ Hè – Thu vừa qua, tổ chúng tôi có 11ha sản xuất lúa giống. Trong đó, Doanh nghiệp tư nhân Chín Táo ký hợp đồng tiêu thụ cho 6 ha với giá mua 1kg lúa giống bằng 1,3kg lúa thương phẩm”. Với thành công bước đầu này tổ của anh Phòng đã thu hút được nhiều nông dân trong ấp tham gia làm tổ viên. Anh cho biết: “Kể từ ngày 25/10/2009, với sự hỗ trợ của dự án Cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo tỉnh Trà Vinh (IMPP-TV), tổ của chúng tôi chính thức trở thành Tổ hợp tác và lấy tên là Phú Thạnh Hưng. Từ 30 tổ viên với 11ha, đến nay tổ chúng tôi đã có 44 tổ viên với tổng diện tích sản xuất là 35ha. Trong đó, 11ha sản xuất lúa giống và 24ha sản xuất lúa thương phẩm”. Anh Nguyễn Văn Dương - chủ nhiệm tổ hợp tác Đồng Tiến cũng hồ hởi cho biết: “Tổ của chúng sau một vụ tổ chức sản xuất theo hình thức tổ hợp tác đã thu hút được 49 hộ tham gia (tăng 17 hộ) với diện tích tăng từ 37ha lên gần 50ha”.

Tại sao lại tham gia vào tổ hợp tác?

Trả lời câu hỏi của ông Peter - Điều gì đã giúp tổ của anh ngày càng vững mạnh và thành công như hiện nay? – anh Phòng mạnh dạn khẳng định: “Tất cả tổ viên của chúng tôi đều nhận thấy rằng việc tham gia vào tổ hợp tác có rất nhiều lợi ích. Thứ nhất, dự án IMPP cùng với Liên minh hợp tác xã của tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật sản xuất cho tổ viên, giúp tổ viên tiếp thu thêm nhiều kỹ thuật sản xuất mới. Thứ hai, với việc tham gia vào tổ, tất cả các tổ viên đều tuân thủ lịch mùa vụ, điều này giúp hạn chế tối thiểu tình hình dịch bệnh trên đồng ruộng. Thứ ba, lợi ích kinh tế là một yếu tố quyết định nhất.” Chứng minh điều này anh Dương cho biết trong vụ hè thu vừa qua, nhờ tổ chức canh tác theo hình thức này năng suất lúa đã nâng lên khá cao, từ 6-7 tấn/ha, cao hơn gần 1tấn/ha so với trước. Giá bán cũng cao hơn so với giá lúa thường từ 300 – 400đ/kg.

Trong khuôn khổ ngân sách cơ hội thị trường cấp xã (CMOB), dự án IMPP-TV đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho tổ viên kỹ thuật canh tác theo hình thức FFS (Farming – Field – School). Đây là phương pháp trực quan giúp nông dân nắm bắt nhanh những kiến thức từ lớp tập huấn. Để giúp bà con nông dân thuận lợi hơn trong vận chuyển hàng hóa ra thị trường, dự án cũng đã đầu tư xây dựng hoàn chỉnh 2 tuyến đường danl với chiều dài gần 1km mỗi tuyến. Để tăng cường năng lực cho các tổ hợp tác, các ngành chuyên môn cũng tích cực tham gia. Trong năm 2009, Liên minh hợp tác xã tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn nghị định 151 cho các tổ hợp tác. Ông Nhi – Phó chủ tịch Liên minh cho biết thêm: “Chúng tôi đã và đang nổ lực phối hợp với dự án IMPP-TV hỗ trợ hơn nữa cho các tổ hợp tác trên địa bàn để tiếp tục củng cố các tổ, tập huấn xây dựng kế hoạch kinh doanh và đặc biệt là năng lực nắm bắt các cơ hội thị trường”.

Định hướng thị trường trong thời gian tới

Trao đổi với chúng tôi về định hướng thị trường cho sản phẩm của tổ trong thời gian tới, cả anh Phòng và anh Dương đều khẳng định chắc chắn rằng hiện nay có nhiều doanh nghiệp sẳn sàng ký hợp đồng mua sản phẩm của tổ với giá cao hơn giá của thương lái nhỏ lẻ. Tuy nhiên, tổ phải đảm bảo sản xuất đúng quy trình 3 giảm – 3 tăng để chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Một trong những doanh nghiệp tiềm năng là Công ty lương thực Trà Vinh, doanh nghiệp tư nhân Vĩnh Nguyên có cơ sở thu mua gần địa bàn xã. Ngoài ra, một số doanh nghiệp kinh doanh lương thực khác đến từ các tỉnh bạn như Đồng Tháp, Vĩnh Long cũng đã có bước tiếp cận và trao đổi với tổ về triển vọng ký kết hợp đồng cho vụ Đông – Xuân tới.

Ý kiến chuyên gia

Trao đổi trong bầu không khí vô cùng thân thiện và cởi mở, ông Peter cho rằng để thành công hơn nữa tổ cần có chiến lược giảm bớt chi phí đầu vào thông qua việc mua vật tư đầu vào tập trung với số lượng lớn thay vì mua riêng lẻ như hiện nay. Tuy nhiên đây là một trong những khó khăn mà ban quản lý tổ rất trăn trở. Thực trạng hiện nay là hầu hết tổ viên phải mua vật tư đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu,… từ các nhà cung cấp theo hình thức trả sau với lãi suất lên đến 20%/vụ (4 tháng). Trao đổi với Ban giám đốc dự án, ông Peter đề xuất rằng dự án cần hỗ trợ các tổ hợp tác tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng. Đây là giải pháp giảm chi phí đầu vào cho các tổ hợp tác nói riêng và cho nông dân nói chung. Cũng theo ông Peter, việc các tổ hợp tác có thể bán sản phẩm của mình với giá cạnh tranh hơn nếu có thể tập trung hàng hóa và hợp đồng với các doanh nghịep lớn thay vì các thương lái nhỏ lẻ. Quan điểm này của ông được hầu hết các tổ viên đồng tình và đây cũng là chiến lược, là mục tiêu của các tổ trong thời gian tới.

Trên đường quay về thị xã, ông Peter tâm sự: “Tôi thật sự rất ấn tượng với những gì các bạn đã làm được trong nỗ lực cải thiện sinh kế cho người nghèo. Dẫu biết rằng phía trước chúng ta còn một chặn đường khá dài, song tôi tin tưởng rằng các bạn đã đi đúng hướng”.
Tác giả: Vũ Bằng - KMO_IMPP-TV
Mô hình liên kết nhóm nông dân với doanh nghiệp do dự án IMPP – TV tổ chức bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực, được chính quyền và nhân dân hưởng ứng tích cực. Kết quả trên một lần nữa cho thấy quan điểm xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người nghèo thông qua hình thức liên kết thị trường là hướng đi đúng và bền vững, cần mở rộng trong phạm vi tòan tỉnh.

Nhóm cộng đồng cùng mục tiêu sản xuất lúa giống xã Tân Sơn, huyện Trà Cú tiêu thụ hơn 30 tấn lúa giống cấp xác nhận.
Vụ hè thu năm nay, với sự phối hợp giữa Trung tâm Khuyến nông hỗ trợ giống nguyên chủng, Trung tâm Giống Nông nghiệp hướng dẫn quy trình sản xuất giống và dự án IMPP – TV tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật trồng lúa giống theo phương pháp FFS cho 2 nhóm cộng đồng cùng mục tiêu thuộc ấp Leng và Đôn Chụm A xã Tân Sơn.

Qua kết quả hội thảo cho thấy giá thành 1 kg lúa giống xác nhận sản xuất theo quy trình là 2.776 đ/kg, giá bán thực tế là 6.500 đ/kg, lợi nhuận là 3.724 đ/kg, tỷ suất lợi nhuận đạt 134%, cao gấp 3 lần so với sản xuất lúa thương phẩm theo phương pháp truyền thống. Vụ này, HTX Đức Hưng đã mua 30 tấn lúa giống xác nhận đạt tiêu chuẩn với giá 6.500 đ/kg, cao hơn 30% so với giá lúa thường, góp phần tăng lợi nhuận đáng kể, nhất là đối với các hộ nghèo trồng lúa.
Theo hợp đồng, vụ Thu – Đông sắp tới HTX tiếp tục thu mua từ 180 – 200 tấn lúa giống xác nhận cho 2 nhóm cộng đồng ấp Leng và Đôn Chụm A.

Liên kết thị trường tiêu thụ bắp lai ở xã Châu Điền huyện Cầu Kè.
Ngày 19/03/2009, Nhóm hỗ trợ Dự án IMPP-TV xã Châu Điền huyện Cầu Kè tổ chức “Hội thảo Tổng kết nhân rộng mô hình sản xuất bắp lai và liên kết thị trường tiêu thụ”, tại Câu lạc bộ Khuyến nông Bình Minh, ấp Rùm Sóc, xã Châu Điền.
Đây là chương trình hợp tác giữa Dự án IMPP-TV với Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư (KN – KNg) tỉnh Trà Vinh nhằm xây dựng mô hình ứng dụng kỹ thuật trồng bắp lai gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, Trung tâm KN-KNg hỗ trợ một phần giống, vật tư cho mô hình trồng bắp lai với diện tích đầu tư 55 ha/95 ha, Dự án IMPP-TV thông qua nguồn vốn Cơ hội thị trường cấấp xã (CMOB) hỗ trợ tập huấn kỹ thuật, liên kết doanh nghiệp tiêu thụ bắp lai. Qua tổng kết, đại diện CLB cho biết "Diện tích trồng bắp ấp Rùm Sóc có 95 ha, trong đó hỗ trợ giống, vật tư của Trung tâm KN-KNg được 55 ha. Dự án IMPP-TV tổ chức 1 lớp tập huấn trồng bắp và hội thảo liên kết tiêu thụ".

Kết quả thăm ruộng bắp được đại biểu nhận xét các trà bắp ước đạt năng suất 7-9 tấn/ha, trong đó 10 ha bắp sử dụng bón phân NEP (SX tại Mỹ) đạt kết quả cao, đồng đều hơn. Theo báo cáo của học viên, chi phí đầu tư của mô hình là 13,6 triệu/ha, năng suất ước đạt 9 tấn/ha, giá thành 1.511 đ/ký, trong khi đó không áp dụng mô hình thì năng suất chỉ đạt 17,14 triệu đồng/ha, năng suất bình quân 8,5 tấn/ha, chi phí 2.016 đồng/ký. Hiệu quả khác biệt: về lợi nhuận/chi phí (B/C) mô hình đạt 0,99 cao gấp 3 lần bình thường của bình quân trong tỉnh, còn không sản xuất theo mô hình chỉ đạt 0,48.

Đại diện DN Cty Kim Long (TX Trà Vinh) cam kết hợp đồng bao tiêu bắp lai của CLB Bình Minh theo giá thời điểm thu hoạch (hiện nay giá bắp tươi 2.700 đ/ký, bắp khô 15 ẩm độ giá 3.600 đồng/ký), đảm bảo nông dân có lợi nhuận cao như báo cáo của lớp học.

Ông Lê Văn Lâm, Giám đốc Trung tâm KN - KNg, cho biết: "Đây là mô hình lồng ghép giữa Sở Nông nghiệp-PTNT với Dự án IMPP-TV mà Trung tâm KN-KNg phối hợp thực hiện mô hình, chủ yếu hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, cụ thể ứng dụng thuốc trừ sâu và phân bón NEP đạt hiệu quả và an toàn. Đây là mô hình liên kết 4 nhà theo QĐ 80 của Chính phủ mà Trung tâm KN – KNg cùng Dự án IMPP-TV phối hợp thực hiện".

Bà Trần thị Viễn, Giám đốc Dự án IMPP-TV, đánh giá cao hiệu quả cây bắp lai ở Rùm Sóc, xác định lợi thế tiềm năng, phù hợp chuyển dịch cơ cấu cây trồng mà cộng đồng đã lựa chọn trong kế hoạch CMOP. Bà Viễn khẳng định: "Việc phối hợp giữa DA và Sở NN-PTNT, cụ thể là Trung tâm KN-KNg, đã lồng ghép nhằm tăng thêm nguồn lực hiệu quả hỗ trợ cho người nghèo; việc ký kết tiêu thụ sản phẩm giữa nhóm CĐCMT với doanh nghiệp cũng đã chứng tỏ quy trình CMOP phù hợp mục tiêu Dự án IMPP-TV. Liên kết gắn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm tại Rùm Sóc-Châu Điền, đã trở thành mô hình hiệu quả cần nhân rộng trong vùng dự án và toàn tỉnh".

Biên tập: Vũ Bằng - KMO IMPP-TV
Nguồn: Hợp phần 1 - Dự án án IMPP-TV
0
Being born and growing up in a rural family, Mr Le Trong Hai living in Commune No 9, Binh Loc village, Loc Ha district, Ha Tinh province lacked opportunities to pursue proper education since he was young. He had to leave his school early to help his family with agricultural production.

From a poor farmer to an entrepreneur

In 2005, on a study tour organized by Ha Tinh Agricultural extension center to Hung Yen province, Hai observed that the mushroom planting is fast and it can yield high economic value in a short time. At the same time, the Institute of Agriculture Genetic (IAG) held a five-day training course for farmers in Ha Tinh town on mushroom planting techniques.

Mr Hai registered to attend the course without any hesitation. Apart from knowledge gained from the training course, he actively searched for reference materials and learned from other successful models on mushroom planting inside and outside the province. Mr Hai was convinced about the economic prospective of developing mushroom plantation in his province.

How it started

Seeing Mr Hai’s ambition to make a fortune in mushroom planting, his family bought needed materials and planted 5,000 bags of Linh Chi mushroom. Mr Hai sold them for 25 million dongs. Through this activity, Mr Hai realized other benefits in addition to the quick growth of mushroom – high quality of and market demand for mushrooms. He was confident to deposit the ownership certificate of the land he owned at the bank to obtain a loan for constructing his house and steaming stove.

In the meantime, Mr Hai mobilized 18 people to form the Quang Trung Mushroom Cooperative. Four of them are members of the Administration Board chaired by Mr Hai. Set up in October 2007, the cooperative initially focused on constructing a business plan, purchasing seeds and bags in the IAG. As production inputs, it used rice plants, wood powder and cotton available in the province.

The start-up of the business was difficult because of limited experience. Mushrooms grew slowly and were destructed by insects. The bank loan became a burden on Mr Hai. Nevertheless, he did not give up but tried to overcome the difficulties even harder. Thanks to these efforts, the products of Quang Trung Mushroom Cooperative increased and improved quickly in quality. All products were purchased by the IAG. Moreover, his cooperative has penetrated into the markets of Quang Binh province, Nghe An province and Ha Noi city.

Business activities

Quang Trung Mushroom Cooperative focuses on producing various kinds of mushrooms such as Linh chi, Moc Nhi, Mo and So. The plantation time lasts from August to April as the weather is cool during these months. According to Mr Hai: “The mushroom plantation job is easy to do and brings about high income”.

Mr Hai is using 0.5 ha of his own land to build the base for planting mushroom. Besides, he encourages his members to plant mushroom on their own land. He says that if mushrooms grow well, the cooperative can harvest 0.25 tone of Linh Chi, 1.2 tones of Moc Nhi, 4 tones of Mo and 1 tone of So each year. The profit reaches almost 100 million dongs after taking into account all the expenses. The success of his cooperative not only brings prosperity to his family but also creates jobs and income for other members in the village.

Currently, mushrooms made by the cooperative are all consumed by Chinese consumers and are insufficient to sell to other provinces in the country. The cooperative also supplies mushroom seeds to other cooperatives in the province such as Cam Xuyen, Huong Khe and Duc Tho. Mushroom plantation also helps produce materials for agricultural production such as bio-fertilizer made from post-harvest mushroom bags, hence it also benefits the environment.

Regarding the plans and desires for the future, Mr Hai and other members of the cooperative expressed the need for stronger support from local authorities and sponsors including labelling, purchasing, packaging machines, product advertisement, building managerial skills, etc.

Ms Tran Thi Huyen - KMO and M&E officer
The Programme for Improving Market Participation of the Poor in Ha Tinh province (IMPP-Ha Tinh) set up project support groups in communes/villages and project consultation committees at various levels. The aim was to strengthen the participation of beneficiaries in selecting project’s activities and highlight the responsibility of providing guidance, supervision and examination of Provincial Project Coordination Unit (PCU). The Programme consulted the Provincial People’s committee in issuing the “Decentralization regulation on implementing IMPP Ha Tinh ".

Although the regulation was issued on 13 January 2009, the project’s activities have been decentralized and coordinated effectively with other activities in the project area such as meetings at village and commune on disseminating project’s content, identification of investment needs, rights and responsibilities of community. Through these community meetings, budget allocation was made transparent for local authorities and the community. Thus, they are well informed, make a plan for implementation, mobilize the participation of beneficiaries and prioritize selecting activities.

In addition, some of project’s activities clearly demonstrate the decentralization to the village and commune level such as capacity building, formation of demo model and civil work.
Based on the approved plan, the village project support group submit document to the PCU for approval of capacity building activities. The demo model requires the appraisal of specialized authorities.

Various capacity building activities have obtained high effectiveness namely training courses on “improving market awareness for people”, “commune market opportunities planning (CMOP) procedures”, training on production techniques; or building successful models such as ball making model by Cam Thanh cooperative, high quality rice production model in Cam Thanh village, and safe vegetable production in Ky Chau village.

Civil works prioritized by people will be approved as an investment work by the provincial People’s Committee. The village project support group with the assistance of the PCU technical group selects consulting group for preparing the economic technical report, technical drawings and cost estimate. After being investigated and submitted to the District People’s Committee for approval of the technical economic report, the Coordinating Board will request the PCU to set up the Project Management Unit so that it is possible to sign contract directly with qualified contractors and consulting companies.

One special feature of decentralized projects is that most of labour force is mobilized from the village and priority is given to poor households and women so they can contribute and earn additional income. Complicated works can be contracted out. Currently, the project has been implementing two construction projects in a decentralized form (Rural road in Son Thuy route 2 – Huong Son district and trade and service centre in Khanh Loc village - Can Loc district).

Decentralization in civil work has been brought into full play using the local available resources such as labor and materials. It helps to increase the awareness of local people in maintaining the work and create income for target groups.

The Project is expected to continue decentralization for districts which have implemented well project’s activities villages in the past two years. Decentralization activities will be linked and coordinated effectively with other activities in the project area.
Ms Phan Thi Tuyet Mai - Commune Planning Unit
Từ ngày 21 đến ngày 24 tháng 10 năm 2009, đoàn khảo sát thực tế từ trung tâm IFAD đã đến làm việc tại Hà Tĩnh. Mục đích của đoàn là muốn xem xét thực tế hiệu quả các dự án do IFAD đầu tư cho người nghèo nông thôn đồng thời qua đó phát hiện những ý tưởng từ người dân. Đoàn do bà Kim Harvey làm trưởng đoàn. Tham gia đoàn khảo sát thực tế còn có bà Antonella Foti, cán bộ phòng quản lý nhân sự của IFAD; Bà Coventry Vivyenne, cán bộ phòng quản lý nhân sự của IFAD; Bà Simone Zein, cán bộ phòng hỗ trợ kỹ thuật; Bà Manuela Rizza, cán bộ phòng nhân sự, đào tạo; Bà Dorys Rodriguez….

Rời xa thành phố lung linh đầy ánh đèn của thủ đô Roma- Italia, các cán bộ Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) về với miền quê nghèo Hà Tĩnh vào mùa mưa lũ giữa tháng 10. Chuyến đi lần này thật đặc biệt vì ngoài mục đích kiểm tra các hoạt động của dự án do IFAD tài trợ thì đây còn là cơ hội hiếm có để các thành viên trong đoàn trải nghiệm cuộc sống mà theo cách gọi của họ là “thâm nhập thực địa”.
Trong ngày đầu tiên đặt chân đến Hà Tĩnh, Đoàn đã có buổi làm việc với Đ/c Trần Minh Kỳ- Phó chủ tịch UBND tỉnh. Trong bầu không khí làm việc thân thiện, Đ/c Trần Minh Kỳ giới thiệu đôi nét về con người, điều kiện kinh tế xã hội cũng như những hoạch định trong tương lai của toàn tỉnh và những khó khăn thách thức mà người dân Hà Tĩnh đang phải đối mặt. Qua đây, đồng chí cũng bày tỏ lòng biết ơn và đánh giá cao những đóng góp to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của IFAD thông qua Dự án phát triển nông thôn (từ 1999 đến 2006) và tiếp sau đó là Dự án Cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo Hà Tĩnh (từ 2007 đến 2012).

Theo hành trình của Đoàn, chúng tôi đi xuống xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân. Đây được chọn làm điểm dừng chân trong suốt thời gian Đoàn đến Hà Tĩnh. Theo yêu cầu, chúng tôi bố trí Đoàn ở tại nhà dân cùng chung sống cùng ăn những bữa cơm quê đạm bạc. Trái với những lo lắng ban đầu của chúng tôi, Đoàn đã thực sự hòa nhập nhanh chóng mặc dù rào cản về ngôn ngữ, văn hóa và tập quán.

Chỉ lưu trú ở xã Xuân Mỹ từ ngày 21/10 đến 23/10 nhưng Đoàn đã tham gia nhiều hoạt động thú vị và có ý nghĩa. Đoàn làm việc với UBND xã Xuân Mỹ nghe báo cáo tình hình thực hiện các hoạt động của dự án Cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo Hà Tĩnh (IMPP) trên địa bàn xã và tiếp xúc với Hội phụ nữ tìm hiểu về Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ. Đi đến đâu Đoàn cũng nhận được sự đón tiếp chu đáo và thân thiện của người dân địa phương. Đặc biệt khi chúng tôi đưa Đoàn ghé qua trường Tiểu học Xuân Mỹ, nhìn những cặp mắt thơ ngây bẻn lẻn của các em khi được người nước ngoài tặng quà. Bút màu, vở tập viết, đồ chơi dù là những món quả nhỏ mang theo từ đất đước xa xôi nhưng là niềm động viên lớn dành cho các em ở miền quê nghèo này.

Trên đường ra trang trại chăn nuôi của gia đình Ông Lê Văn Bình, Đoàn có dịp tham gia lớp tập huấn kỹ thuật trồng dưa đỏ do Dự án IMPP phối hợp với Trung tâm khuyến nông huyện Nghi Xuân tổ chức. Có đoàn cán bộ IFAD về thăm, bà con nông dân rất phấn khởi. Họ hiểu từ khi có dự án về cuộc sống nơi đây đang dần thay đổi, họ mạnh dạn đầu tư làm ăn, hăng hái tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất.
Ngày hôm sau, Đoàn thăm cơ sở sản xuất tăm hương Phúc Đại Hùng vào đúng dịp nhóm cán bộ dự án phối hợp với chuyên gia Đại học Huế hướng dẫn cơ sở lập kế hoạch kinh doanh. Buổi chiều hôm đó mọi người cùng hòa vào không khí tưng bừng “ngày hội việc làm thanh niên trong thời kỳ hội nhập” diễn ra tại trụ sở UBND xã do dự án IMPP phối hợp với huyện đoàn.

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng Đoàn để lại đằng sau những kỷ niệm thật đáng nhớ. Những bữa cơm tại nhà dân rôm rã tiếng cười khi các thành viên trong đoàn vụng về học cách cầm đũa. Những đêm tụ tập nhau lại cùng người dân trong thôn đánh bài. Dường như khoảng cách về ngôn ngữ và văn hóa không còn nữa.

Đoàn ra về trong sự lưu luyến của mọi người. Bóng xe chở đoàn ra Hà Nội khuất xa dần sau lũy tre làng chỉ còn lại hi vọng của người dân nơi đây về những dự án mới sẽ về trên quê hương để một ngày nào đó như hôm nay họ lại được đón tiếp cán bộ IFAD về thăm.


Nguyễn Thị Hiền - IMPP Hà Tĩnh
More than 4,000 rural labors in Tra Vinh province benefit from job skills training. 85% of trained labors have stable jobs and significantly improve their incomes.
The project goal is to provide job skills training for 12,500 rural labors. After the first half of its lifetime, the project successfully trains more than 4,000 rural job seekers. With 3 different types of training: commune-based training, enterprise-based training and Vocational Training Center-based training, the Project provides quite enough skills for job seekers. Types of skills are also very diversified. So, those who want to have simple jobs to make use of their off-farm leisure and those who want be employed in big companies can also take the training.

The project training strategy also focuses on the stable employment and income improvement of trained labors.The training courses help improve their income significantly, nearly 50% higher over before they take the training. “I am very thankful for the IMPP project for providing the chance to improve my skills. And now, I get the increase up to 1,5 million a month”, said Thach Soul a construction coolie in Ngu Lac commune.

The initial success is a good signal proving that the IMPP project is on the right way to reach its goal – poverty alleviation in rural areas in Tra Vinh province.


Vu Bang – KMO IMPP Tra Vinh
Đến xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh vào ban ngày, thoang thoảng mùi hương trầm thơm ngát. Đường làng rất vắng vẻ vì tất cả người dân nơi đây đang cuốn hút với công việc do cơ sở sản xuất hương trầm của anh Phan Việt Hùng mang lại.

Làm giàu trên mảnh đất quê hương
Gặp Phan Việt Hùng- chủ cơ sở sản xuất Hương trầm Phúc Đại Hùng vào một buổi chiều tháng 9 tại xã Xuân Mỹ, một người đàn ông rắn rỏi, cao, gầy tiếp chuyện chúng tôi trong khi tay vẫn thoăn thoắt trộn bột hương. Phan Việt Hùng sinh năm 1971 tại thôn 7 xã Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân. Sau khi tốt nghiệp cử nhân kinh tế, anh đã từng bôn ba khắp nơi để kiếm kế sinh nhai. Anh cho biết:“Tôi đã đi nhiều nơi, trải nghiệm nhiều công việc nhưng cuối cùng tôi quyết định trở về làm giàu trên chính quê hương mình”.
Trong tâm trí anh luôn đau đáu hướng về quê nhà, tìm một công việc phù hợp để giúp mình và người dân quê mình thoát nghèo. Ý tưởng đó đã thôi thúc anh trở về Xuân Mỹ sau 15 năm lăn lộn kiếm sống ở đất khách. Anh tâm sự: “Tôi đã đi khắp các tỉnh thành để tìm một nghề phù hợp với tình hình thực tại ở địa phương mình. Cuối cùng, tôi đã dừng chân ở Hà Tây và tìm được nghề sản xuất hương. Tôi đã mất gần 2 năm đi làm thuê tại các xưởng sản xuất hương ở đó, tìm hiểu thị trường thông qua các kênh tiêu thụ, địa điểm giao hàng của các xưởng sản xuất”. Sau khi đã có một số kinh nghiệm giắt lưng kha khá, anh Hùng quyết định trở về quê nhà mở xưởng sản xuất hương.

Thành công bằng mọi giá

Ý tưởng làm giàu trên quê nhà bước đầu gặp rất nhiều khó khăn. Anh nói: “Với một xưởng sản xuất nhỏ, vốn và kỹ thuật là vấn đề khó khăn hàng đầu. Nhiều lúc, cơ sở sản xuất của tôi đứng trên bờ vực phá sản.” Nhưng quyết tâm và nghị lực làm giàu trên quê hương đã thôi thúc anh vươn lên. Trong lúc khó khăn nhất, anh Hùng đã biết được dự án IMPP Hà Tĩnh đang thực hiện các hoạt động khuyến khích phát triển doanh nghiệp trên địa bàn. Anh đã liên hệ cán bộ dự án cấp huyện để tiếp cận nguồn hỗ trợ.

Từ tháng 4 năm 2009, Dự án IMPP đã hỗ trợ kinh phí tổ chức lớp học nghề làm hương cho 50 học viên trong xã trong thời gian hai tháng rưỡi. Chị Đặng Thị Quý – một học viên tham gia lớp đào tạo nghề cho biết: “Chúng tôi được cung cấp những kỹ thuật về chọn nguyên liệu, pha chế hỗn hợp làm hương, kỷ thuật chẻ tăm hương. Sau khi kết thúc khoá học, chúng tôi đều làm ra được sản phẩm, mỗi tháng gia đình tôi có thêm thu nhập trên 1,2 triệu đồng”. Xưởng sản xuất Phúc Đại Hùng đã tạo công ăn việc làm cho hơn 100 hộ gia đình trong xã có thu nhập ổn định từ 800 nghìn đến 1,2 triệu đồng mỗi tháng. Anh Hùng chia sẻ: “Với sự hỗ trợ về kỹ thuật của dự án IMPP Hà Tĩnh, từ chỗ gặp rất nhiều khó khăn, bây giờ cơ sở của chúng tôi đã đứng vững và có uy tín trên thị trường sản xuất hương trong nước.”

Thành công của dự án IMPP Hà Tĩnh

Với thành công bước đầu từ việc hỗ trợ kỹ thuật cho cơ sở sản xuất hương Phúc Đại Hùng, dự án IMPP Hà Tĩnh tiếp tục hỗ trợ cho 55 học viên khác học nghề làm hương, để đáp ứng nhu cầu sản xuất và cung ứng cho thị trường. Mặt khác, dự án cũng sẽ hỗ trợ cơ sở xây dựng thương hiệu và đăng ký nhãn mác trong thời gian tới.

Hơn 100 hộ gia đình trong xã Xuân Mỹ đã được hưởng lợi trực tiếp từ việc tham gia sản xuất tăm hương cho cơ sở. Đây là công việc được thực hiện trong nhà và có thể tận dụng sức lao động trong thời gian nhàn rỗi.

Sản phẩm hương của cơ sở đã được khẳng định trên thị trường Hà Tĩnh, Nghệ An và Đà Nẵng. Anh Hùng cho biết: “Hiện tại, sản xuất hương đến đâu tiêu thụ đến đó, nhu cầu thị trường rất lớn vì thế chúng tôi dự định sẽ mở rộng quy mô sản xuất tạo việc làm cho người dân trong xã.”

Cơ sở sản xuất hương trầm Phúc Đại Hùng đã mang lại hi vọng làm giàu cho người dân địa phương trên các xã thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Trần Thị Huyền – KMO Hà Tĩnh
Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích liên kết “bốn nhà” (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước) trong việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, đến nay đã gần tròn bảy năm. Đây là một chủ trương đúng nhưng lại bế tắc trong thực thi do cơ chế chưa phù hợp. Với sự hỗ trợ của dự án Cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo tỉnh Trà Vinh (IMPP-TV), mô hình này đã được đưa vào thực tiễn và bước đầu thành công ở xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Đầu năm 2009, dự án IMPP-TV chính thức khởi động ở xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè. Hoạt động đầu tiên của Dự án IMPP-TV tại đây là triển khai mô hình “Nâng cao chất lượng lúa gắn hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm” giữa nhóm cộng đồng trồng lúa với doanh nghiệp. Chỉ qua một vụ lúa nhưng những kết quả đạt được đã tạo ra “cú hích” hấp dẫn đối với người trồng lúa.

Mô hình liên kết bốn nhà
Thạnh Phú là một xã vùng sâu của huyện Cầu Kè, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 32,6%, kinh tế nông nghiệp chiếm hơn 63% . Những năm qua, sản xuất lúa của bà con nông dân luôn bị sâu bệnh gây hại trên diện rộng, chất lượng sản phẩm không phù hợp yêu cầu thị trường nên khó tiêu thụ… Thu nhập của người nông dân từ trồng lúa còn thấp, bình quân đầu người dưới mức 6,8 triệu đồng/người/năm. Vì vậy, đời sống nông dân luôn gặp khó khăn.

Để nâng cao chất lượng hạt lúa, khâu hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất từ: chọn giống, lịch thời vụ, kỹ thuật sạ hàng, bón phân đúng kỹ thuật,… được xác định là yếu tố ban đầu, quyết định 50% hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, đối với người nông dân, việc gắn kết doanh nghiệp, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) từ lâu cũng luôn là một trở ngại. Hiểu được những khó khăn của nhà nông, dự án IMPP-TV đã xây dựng mô hình sản xuất “liên kết bốn nhà” theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Chính phủ. Dự án hỗ trợ hình thành tổ chức liên kết “Cộng đồng trồng lúa” gồm 108 hộ với diện tích canh tác 91,7 ha, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho các nhà khoa học Chi cục Trồng trọt Bảo vệ thực vật chuyển giao kỹ thuật theo phương pháp 3 giảm 3 tăng, kết hợp phương pháp khử lẫn. Trung tâm giống nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.

Nông dân Nguyễn Văn Nữa, người tham gia mô hình trồng lúa cộng đồng xã Thạnh Phú cho biết: “Trước đây, sản xuất lúa mạnh ai nấy làm, giờ được dự án IMPP-TV hỗ trợ, nông dân, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước liên kết nhau lại nên bà con được tư vấn kỹ thuật, sản xuất lúa an tâm đầu ra, hiệu quả kinh tế sản xuất liên kết cao hơn 1,5 lần so trước.”

Khả quan kết quả
Sau hơn 3 tháng thực hiện mô hình, kết quả vượt xa sự mong đợi của nông dân và các nhà khoa học: Thời gian sinh trưởng rút ngắn 5-10 ngày, năng suất thực tế bình quân 6,92 tấn/ha, cao hơn 0,5-1,5 tấn/ha. Mô hình này giúp giảm chi phí sản xuất 8,24%, tăng năng suất bình quân từ 30-42% so với vụ trước và chất lượng sản phẩm tăng trên 30%.

Với diện tích canh tác 91,7 ha, vụ lúa đông xuân 2008-2009, nông dân thu nhập gần 3,3 tỉ đồng, lợi nhuận hơn 2 tỉ đồng. Bình quân 1 ha canh tác nông dân thu lãi hơn 20 triệu đồng. Đây là năm đầu tiên hiệu quả kinh tế từ trồng lúa đạt cao nhất từ trước đến nay.

Ông Nguyễn Văn Tỏ, cán bộ hợp phần 1 dự án IMPP-TV đánh giá: “Chương trình liên kết “bốn nhà” là một trong những thành công nổi bật trong sản xuất lúa chất lượng cao thời gian qua. Nhờ thực hiện tốt từ khâu tư vấn kỹ thuật đến việc tìm thị trường tiêu thụ lúa thương phẩm nên lợi nhuận của nông dân tăng thêm từ 30 đến 40%. Thành công từ mô hình mở ra cung cách làm ăn mới, tư duy mới cho nông dân trong canh tác lúa hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ. Một khâu hạn chế cố hữu của nông dân từ trước đến nay…”

Nông dân Nguyễn Văn Dương nhìn nhận: “Lúa trồng theo mô hình liên kết “bốn nhà” năng suất cao hơn 0,5-1,5 tấn/ha. Theo tính toán của nông dân bình quân 1 ha canh tác thu lãi hơn 20 triệu đồng. Đây là con số trong mơ đối với nông dân trồng lúa”.

Bài học rút ra từ liên kết “bốn nhà”
Liên kết kinh tế tiêu thụ sản phẩm là mục tiêu của dự án IMPP-TV. Hợp đồng ký kết tiêu thụ lúa giữa 4 nhóm cộng đồng cùng mục tiêu của xã Thạnh Phú với Trung tâm giống Đồng Tháp là thành công bước đầu của nhóm hỗ trợ dự án cấp xã trong việc liên kết nông dân với doanh nghiệp, đáp ứng mong đợi của người dân địa phương. Mô hình này đã liên kết hài hòa giữa các bên liên quan trong chuỗi giá trị lúa, giúp thỏa mãn tốt lợi ích kinh tế giữa nhóm cộng đồng cùng mục tiêu (nhà nông) với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Việc bỏ qua khâu thu gom thương lái, rút ngắn từ sản phẩm của cộng đồng đến đơn vị trực tiếp tiêu thụ cho doanh nghiệp giúp kết chuyển giá trị tăng thêm vào trong nhóm cộng đồng. Từ mô hình, người dân Thạnh Phú đã biết tận dụng cơ hội thị trường, liên kết kinh tế tiêu thụ sản phẩm thông qua doanh nghiệp, mở ra triển vọng thoát nghèo cho nhà nông Thạnh Phú trong tương lai. Mô hình liên kết này có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng thu nhập, tiến tới xóa đói cho người nghèo sống bằng nghề trồng lúa.

Mô hình liên kết “bốn nhà” mang lại lợi ích kinh tế cao, đạt hiệu quả lợi nhuận 160%, tăng gấp 4 lần so với bình quân chung của tỉnh. Hộ nông dân tham gia mô hình được lợi nhuận bình quân khoảng 18,9 triệu đồng/hộ, tương đương 22,1 triệu đồng/1 ha, gấp 4 lần lợi nhuận bình quân toàn tỉnh. Mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho nông hộ.

Ngoài ra, qua mô hình này, năng lực kỹ thuật sản xuất thâm canh lúa của nông dân được cải thiện rõ rệt, chứng minh qua năng suất đạt cao nhất từ trước đến nay. Một số nông dân tham gia tập huấn mô hình hiểu biết tốt quy trình kỹ thuật, như ông Nguyễn Văn Phòng, ông Huỳnh Văn Đáng ở ấp Tư, ông Nguyễn Văn Dương ở ấp Ba… có khả năng hướng dẫn và truyền đạt cho những nông dân khác học tập ứng dụng.

Hiện nay, các nông dân trên địa bàn xã Thạnh Phú áp dụng quy trình sản xuất 3 giảm 3 tăng, áp dụng hạn chế thuốc bảo vệ thực vật đã tạo điều kiện phát triển các loài thiên địch hữu ích và các phiêu sinh học thủy…góp phần đảm bảo về mặt môi trường và an toàn cho người trồng lúa.

Mô hình “liên kết bốn nhà” sản xuất, tiêu thụ lúa tại xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè là mô hình có hiệu quả về cả kinh tế, xã hội và môi trường. Mô hình tạo ra bước đột phá lớn, tạo nên sự phấn khích trong nông nghiệp và đời sống nông dân. Ông Ngô Văn Thạnh - Chủ tịch xã Thạnh Phú cho biết: “Thành công từ mô hình “bốn nhà” tại Thạnh Phú thông qua sự “trợ lực’ của dự án IMPP-TV vượt sự mong đợi của nông dân và chính quyền địa phương. Mô hình đã tạo nên sức bật mới cho nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân địa phương. Chúng tôi sẽ tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm để nhân rộng cho nông dân học tập…".


Dương Hồng Diệp – KMO Trà Vinh
DEEP UNDERSTANDING OF IFAD CONTRIBUTION TO RURAL POOR PEOPLE

Three days at two Quang Binh DPPR communes have made the immersion team an interesting experience about the livelihood of the rural people and how effectively that IFAD’s contribution has made.



In the afternoon of October 21st, 2009, after having a short meeting with DPPR Provincial Project Management Unit, the team arrived to Ngu Thuy Nam commune, beginning a 3 days living with rural poor people. On the way, project staff showed team members the long road that ARCD - the IFAD project phase 1 built for people as well as the poplar forest to protect the land that people have grown from the seedlings that the project provided. The households that the team stayed in are very close to the sea. They can hear the sound of sea waves and touch the moisture of sea water. And the first feeling that the team can perceive is the hospitality and friendliness of the rural poor people.
In the morning of October 22nd, the team worked with Ngu Thuy Nam CPMU to have an overview of the socio-economic status of the commune and project contribution to the development of the commune. The team then separated into three groups to participate in a women meeting and 2 wealth ranking meetings taking place regularly at the village level. What they could understand was the strong and ebullient discussion of the participants. The people were very fair in choosing the poor households.
In the afternoon of October 22nd, the team continued their participation in 3 Credit and Savings meetings. They were surprised with the very small savings that women submit regularly monthly before receiving loan. Every member of the group has received the first loan and some have received the second. One thing that all the members raised to the team was that the loan size was low, the need to borrow was very big but the capacity of the Project to satisfy was so limited. The members had to seek for other sources of fund to invest into production activities. The team recognized this and took note for report when they came back to office.
After the Credit and Savings meetings finished, the team went to visit a fish sauce processing cooperative that have been formed and run by 11 women. With support from the project, the cooperative was running very well with a yield of 3,000 liters of fish sauce every year. This contributes a lot not only to the income of these women but also help them to get out of unemployed situation.

The last night at Ngu Thuy Nam commune was the opportunity for team members to express their feelings and make comments for what they had observed. Tiziana Carpenelli, a team member, said: “In some countries that we, IFAD have provided support, we must make campaigns for people to recognize our contribution. When coming here, however, we can see that the rural people in this commune help us to realize how happy we are for our contribution to them”. Responding to that, the chairman of Ngu Thuy Nam CPMU said: “IFAD, through the operation of DPPR project have contributed a lot to the poverty reduction objective of the commune. On behalf of Ngu Thuy Nam CPMU and the rural people, I would like to sincerely thank for what you have done for us and would hope that IFAD continues to support so that the villagers can escape from poverty sustainably and extend production scale and approach market to consume products”.
The third day of the field trip was the time for team members to experience the difference between Ngu Thuy Nam commune - a sandy coastal area of Le Thuy district and Truong Xuan commune - a mountainous area of Quang Ninh district. After having a short meeting with Truong Xuan CPMU staff, the team went to visit a model of bee raising for honey that DPPR supports. The team then came to visit a Van Kieu ethnic minority village. They put a lot of questions to CPMU and PPMU staff when they saw how poor Van Kieu people were. In fact, the livelihood of these people has been improved a lot after receiving project support through production development. The team members gave many gifts to Van Kieu women and children that they met on the way. After that, the team stopped by a cross - bred sow model. This model has improved the income of the family remarkably. However, the condition on facility and necessary tools for life is still limited. After having seen the effectiveness that this model brought about, many farmers around have come to learn and bought the piglets to extend production scale and increase the income.

Three days passed by quickly. The team had to say goodbye to project staff and villagers. On behalf of the team, Mr. Mark Forrest said: “We are very happy when our contribution has been recognized and used effectively. People know how to use our fund to invest into production activities to improve their income. We hope we will not see any poor households if we have another chance to come here in the future”. The closing speech of Mr. Mark Forrest was also the expectation of rural people as well as Quang Binh DPPR. Better life of poor people is always the objective that IFAD and the project aim to achieve.

Lan Anh and Huong - KMO DPPR Quang Bình
Chợ Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang là một trong số hơn 2.000 công trình mà dự án Phân cấp giảm nghèo (DPPR) đã đầu tư từ năm 2005 đến năm 2009. Tổng số tiền mà dự án đầu tư cho các công trình này là trên 56 tỷ đồng. Đây là một nguồn đầu tư lớn, góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng tại các thôn bản của tỉnh Hà Giang.

Xây dựng chợ từ vốn dự án

Mỗi phiên chợ xã Niêm Sơn thường thu hút hàng ngàn người dân trong xã và các xã lân cận như: Niêm Tòng, Tát Ngà (huyện Mèo Vạc), xã Ngọc Long, Mậu Long (huyện Yên Minh) đến mua bán, trao đổi hàng hóa. Ngay cả người dân từ các xã Lý Bôn, Nam Cao (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng) cũng đến mua bán tại chợ này.

Từ năm 2008 trở về trước, nếu ai có dịp đến chợ xã Niêm Sơn sẽ thấy chỉ là những túp lều bằng tre nứa tạm bợ. Chị Phàn Thị Toan, thôn Khuổi Luông, xã Niêm Sơn cho biết: “Trong những ngày mưa rét, chúng tôi họp chợ trên nền đất lầy lội, không có chỗ bày hàng hóa.”

Từ nhu cầu cấp thiết của người dân, chợ Niêm Sơn đã được đầu tư xây dựng gồm 2 dãy nhà chợ 7 gian khang trang và sân đổ bê tông gần 2.000m2. Bà Lâm Thị Vi- phó chủ tịch xã cho biết: “Năm 2007, công trình chợ Niêm Sơn được xây dựng từ việc lồng ghép 2 nguồn vốn: dự án DPPR đầu tư 800 triệu đồng và nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung của huyện gần 400 triệu đồng, đã góp phần giải quyết khó khăn về nơi họp chợ cho bà con trong xã.”

Thành công với hoạt động của ban quản lý chợ

Dự án DPPR ngoài việc xây dựng chợ, còn hỗ trợ UBND xã thành lập hợp tác xã quản lý chợ với 4 thành viên có nhiệm vụ quản lý chợ, thu các loại thuế, lệ phí và thu gom rác. Số tiền thuế thu được trích lại 50% để chi trả cho 4 thành viên của HTX, 50% sẽ nộp cho chi cục thuế huyện. Dự án trang bị cho HTX đầy đủ phương tiện hoạt động như: thùng thu gom rác, xe chở rác, bình cứu hỏa và một số vật dụng khác.

Cách 5 ngày lại có một phiên chợ, lượng rác thải sau mỗi lần họp chợ là rất lớn. Ông Thuận Văn Khoa- HTX Quản lý chợ cho biết: “Trước khi có HTX, không có người và dụng cụ để thu gom rác nên khu chợ rất mất vệ sinh. Mỗi phiên chợ, chi cục thuế huyện cử một cán bộ đến để thu thuế. Cán bộ thu thuế bận rất nhiều việc nên kết quả thu thuế thường không đạt chỉ tiêu”.

Từ khi có dự án xây dựng chợ, thành lập HTX và được hỗ trợ trang thiết bị, ban quản lý chợ đã đi vào hoạt động ổn định. Ông Khoa cho biết thêm: “Mỗi buổi họp chợ, người dân buôn bán đúng nơi quy định. Sau mỗi phiên, rác thải được thu gom và quét dọn sạch sẽ. Kết quả thu thuế năm 2008 của HTX rất khả quan, vượt chỉ tiêu 27 triệu đồng. Hết tháng 9/2009 đã thu được 36 triệu đồng, gần đạt chỉ tiêu năm.”

Với việc thành lập HTX, dự án đã góp phần tạo thu nhập cho những người tham gia ban quản lý. Chỉ làm việc trong 6 ngày họp chợ, nhưng thu nhập bình quân của mỗi thành viên là 200.000 đồng một tháng. Đặc biệt, người thu gom rác có thu nhập cao nhất trong HTX, là 350.000 đồng/ tháng.

Bà Phạm Thị Yến - Phó ban quản lý dự án DPPR huyện Mèo Vạc nhận định: “Dự án đã đầu tư xây dựng nhiều công trình mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân vùng cao. Chợ Niêm Sơn là một ví dụ. Sau khi xây dựng, chợ hoạt động rất hiệu quả”.
Thu Hằng – KMO DPPR Hà Giang