Pages

Cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh là một trong bốn nội dung chính của dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (DBRP) Bến Tre. Năm 2010, dự án đã cơ bản tác động đến tỉnh trong lĩnh vực xây dựng khung pháp lý để hỗ trợ môi trường đầu tư và kinh doanh trong việc thu hút đầu tư tư nhân nhiều hơn.
Mặt khác, các hoạt động của hợp phần cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh đã góp phần tăng cường năng lực cho cán bộ các cơ quan của tỉnh trong thu hút đầu tư và kỹ năng xây dựng các kế hoạch hành động.
Về nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, trong năm qua dự án đã phối hợp với các ngành tỉnh tổ chức hội thảo Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2020; hỗ trợ Ban Quản lý các khu công nghiệp xây dựng chính sách thu hút đầu tư vào khu công nghiệp nhằm tạo nguồn lực đầu tư tư nhân và tạo việc làm cho lao động nông thôn.
Chính sách ưu đãi đầu tư vào khu công nghiệp đã được lấy ý kiến đóng góp từ cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý.
Dự án cũng đã tổ chức hội thảo Phát triển du lịch cộng đồng phục vụ giảm nghèo; cùng với Trung tâm Xúc tiến đầu tư (IPC Bến Tre) phổ biến sâu rộng chính sách đầu tư đã được tỉnh ban hành, trong đó có đưa thông tin và hướng dẫn kinh doanh về các góc thông tin tại 50 xã dự án.
Nhằm phát triển thị trường lao động, nhiều hội thảo giới thiệu việc làm cho thanh niên nông thôn được tổ chức ở các huyện. Ngoài ra, thông tin về cơ hội việc làm cũng được phát sóng trên truyền hình và tải lên trung tâm thông tin xã.
Đặc biệt IPC Bến Tre đã liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp và các nhà cung cấp lao động và nhiều hợp đồng cung ứng lao động với một số công ty đã được ký kết. Cho đến nay, hàng trăm lao động đã tìm được việc làm, qua sự phối hợp và hỗ trợ này.
Giải quyết vấn đề chất lượng lao động, dự án đã phối hợp với ngành chức năng tổ chức hội thảo Đào tạo và cung ứng nguồn lao động cho ngành công nghiệp Bến Tre.
Giải pháp mà hội thảo này đưa ra là sẽ xây dựng mô hình liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Đó là sự phối hợp trong xác định nguồn lao động thực tế ở các địa phương, sử dụng hiệu quả và hợp lý những chính sách của Nhà nước về lao động việc làm, đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thông qua việc nhà trường dạy lý thuyết, doanh nghiệp là nơi thực hành… Cách làm này nếu được thực hiện tốt sẽ giảm mối lo về lao động không có tay nghề của các doanh nghiệp.
Đồng thời với các tác động trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, dự án DBRP còn quan tâm về tăng cường năng lực cho các cơ quan trong các hoạt động liên quan đến đầu tư và xúc tiến đầu tư. Năm 2010, dự án tiếp tục chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng giao tiếp và sử dụng tiếng Anh đợt 2 cho 25 cán bộ của các sở, ngành tỉnh và huyện; tổ chức 2 đợt khảo sát và học tập kinh nghiệm trong nước về xúc tiến thương mại, đầu tư và về cải cách thủ tục hành chính cho các sở, ngành tỉnh; đào tạo về kỹ năng xúc tiến đầu tư cho một số sở, ngành tỉnh; tập huấn cho cán bộ cấp xã, huyện kỹ năng xây dựng và lồng ghép kế hoạch hành động giúp giảm nghèo. Đặc biệt, dự án đã hỗ trợ xây dựng Website cho Trung IPC Bến Tre để cung cấp thông tin đầu tư kinh doanh và quảng bá đầu tư cho tỉnh.
Theo đánh giá của các chuyên gia IFAD trong chuyến làm việc với Bến Tre trong năm 2010, dự án DBRP cơ bản tác động đến tỉnh trong lĩnh vực xây dựng khung pháp lý để hỗ trợ môi trường đầu tư và kinh doanh, thu hút đầu tư tư nhân nhiều hơn và tạo thêm việc làm cho người dân nghèo nông thôn.
Các hoạt động của hợp phần đã góp phần tăng cường năng lực cho cán bộ các cơ quan của tỉnh trong thu hút đầu tư và kỹ năng xây dựng các kế hoạch hành động. Điều này cũng đã được thể hiện qua đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp với Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam của cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ vừa công bố vào giữa tháng 3/2011.
Chỉ số PCI của Bến Tre năm 2010 tăng 5 bậc (từ hạng 15 năm 2009 lên hạng 10 năm 2010). Chỉ số này được xác định thông qua việc lấy ý kiến các doanh nghiệp theo 9 chỉ số thành phần: gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý.
Trên cơ sở kết quả đạt được, năm nay dự án DBRP sẽ tiếp tục hỗ trợ các bên liên quan xây dựng kế hoạch hành động nhằm định hướng cho các hoạt động phát triển môi trường đầu tư và kinh doanh; phối hợp với tỉnh tăng cường thu hút đầu tư tư nhân; hỗ trợ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND các huyện và 50 xã dự án xây dựng kế hoạch giảm nghèo.
Dự án cũng sẽ tiếp tục chương trình đào tạo cán bộ tỉnh, huyện và các sở ngành về đầu tư và kinh doanh, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và tổ chức các hoạt động hỗ trợ phát triển môi trường đầu tư và kinh doanh như: diễn đàn đầu tư kinh doanh, hội thảo phát triển, hội chợ thương mại phục vụ người nghèo…
DBRP Ben Tre
Sáng 19-4, đồng chí Nguyễn Thiện UVBTV TU, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì Hội thảo quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia theo định hướng thị trường của (moSEDP)
Các ngài Lothar- Cố vấn Trưởng GIZ (Tổ chức hợp tác kỹ thuật CHLB Đức tại Hà Tĩnh); Reichert- Cố vấn Trưởng GIZ tại tỉnh Trà Vinh cùng dự hội nghị
Quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, Chính phủ đã có nhiều chính sách trong công tác lập kế hoạch nhằm phát huy dân chủ ở cấp cơ sở, đồng thời thích ứng với bối cảnh nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở cấp cơ sở (xã, phường) vẫn chưa theo kịp với nhu cầu của thực tiễn, chưa đáp ứng được sự phát triển của thị trường và các cơ hội thị trường.
Đặc trưng của lập kế hoạch kinh tế- xã hội định hướng thị trường bao gồm những vấn đề gì? Thế nào là cơ hội thị trường ? Mục tiêu cụ thể, mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu bản kế hoạch được hiểu như thế nào?. Những thuật ngũ này đã được Tiến sỹ Trần Ngọc Hùng- Trung tâm Môi trường & PTNT trường Đại học Vinh trình bày tại hội thảo và được cụ thể hóa bằng cuốn sổ tay: Hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội định hướng thị trường hàng năm cấp xã (MoSEDP). Đây được coi là cuốn cẩm nang trong việc áp dụng lập kế hoạch hàng năm cấp cơ sở theo định hướng của thị trường sát với tình hình thực tế và đã được triển khai tại 6 xã điểm trong tỉnh như Phù Việt (Thạch Hà); Khánh Lộc, Tiến Lộc (Can Lộc); Xuân Mỹ, Xuân Viên (Nghi Xuân); Đức La (Đức Thọ)
Nhiều ý kiến của đại biểu dự hội thảo đều đánh giá cao những chỉ tiêu, cách thức trình bày cũng như phương thức tiếp cận vấn đề trong cuốn sách, đồng thời cũng chỉ rõ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện. “MoSEPD là thuật ngữ trong tiếng anh. Nếu tách ra SEDP nghĩa là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội còn Mo gắn vào là định hướng thị trường. Khó ở chỗ là thị trường luôn biến động nên đòi hỏi có sự thích ứng. MoSEDP mà IMPP (Dự án sự tham gia cải thiện thị trường cho người nghèo) làm được thời gian qua đã để lại trong tôi những ấn tượng tốt đẹp. Tuy vậy với những gì đề cập trong cuốn sách hướng dẫn ngoài quyết tâm phải có nguồn lực nếu không sẽ chỉ tồn tại ở một văn bản mà thôi” Ngài Lothar chia sẽ.
Phát biểu kết luận hội thảo Phó Chủ tịch Nguyễn Thiện nhiệt liệt đánh giá cao sự giúp đỡ của các tổ chức nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia GIZ đã dành cho tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua, đồng thời hy vọng thời gian tới tỉnh tiếp tục nhận được sự hỗ trợ có hiệu quả của các tổ chức cũng như cá nhân các ngài cố vấn. Đồng thời đề nghị Ban Điều phối dự án IMPP tiếp tục phối hợp với các chuyên gia rà soát, xem xét kỹ bản kế hoạch trình UBND tỉnh phê duyệt. Tháng 7 năm nay sẽ là thời gian triển khai lập kế hoạch theo hướng dẫn. “ Vẫn biết khó, nhưng “ném” vào rồi lại “nhảy” ra là chuyện thường, vì vậy các huyện cần phối hợp với Ban điều phối chỉ đạo các xã triển khai sớm chương trình này.
Tin, ảnh: Hoài Nam
Từ 12 đến 22 tháng 4 năm 2011, Đoàn đánh giá giám sát năm 2010 của IFAD đã đến làm việc tại dự án DPPR Hà Giang. Trưởng đoàn là bà Atsuko Toda – giám đốc chương trình quốc gia.
Dự án DPPR sẽ kết thúc vào cuối năm 2011, do vậy mục đích của đoàn giám sát năm nay là đánh giá việc thực hiện dự án trong năm 2010 và xây dựng các bài học kinh nghiệm để đảm bảo tính bền vững, xác định các yếu tố chính tạo nên thành công và những hạn chế ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án, phát triển và nhân rộng kế hoạch cho các kết quả đầu ra cụ thể. Phương pháp của Đoàn là thực hiện nhiệm vụ huy động có sự tham gia của các bên như cơ quan chính quyền các cấp, các ban ngành trong Tỉnh. Đặc biệt, hội thảo các bên liên quan được tổ chức tại tỉnh, huyện và xã để thu thập các kiến nghị và đánh giá dự án và bài học kinh nghiệm cũng như các biện pháp can thiệp trong tương lai để đảm bảo hoàn thành dự án, nhân rộng và quản lý tri thức của dự án.
Ngày 12,13/4, Đoàn đã họp tại Tỉnh với sự tham gia của cán bộ dự án và các Sở, Ban ngành. Sau đó Đoàn đi thăm và làm việc tại các xã, thôn bản của 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Xín Mần và Quang Bình.
Ngày 22/4, đoàn sẽ có buổi họp cuối cùng để báo cáo kết quả đợt đánh giá với UBND Tỉnh Hà Giang.
Thu Hằng - KMO Hà Giang

Dự án Phân cấp giảm nghèo tỉnh Hà Giang (DPPR) được triển khai thực hiện từ năm 2005. Đến tháng 9/2011 sẽ kết thúc toàn bộ các hoạt động trên hiện trường, tháng 3/2012 sẽ đóng toàn bộ dự án. Theo quy định của IFAD, mỗi dự án sẽ tổ chức điều tra RIMs 3 lần: lần đầu khi bắt đầu thực hiện dự án, lần 2 vào trước khi đánh giá giữa kỳ, lần 3 vào năm cuối cùng của dự án. Tháng 8/2006, ngay sau khi có hướng dẫn của IFAD, DPPR Hà Giang đã tổ chức điều tra RIMs lần 1. Dự án thực hiện đánh giá giữa kỳ vào tháng 3/2008. Do thời gian từ tháng 8/2006 đến 3/2008 quá ngắn, nên IFAD đã cho phép DPPR không phải điều tra RIMs giữa kỳ, chỉ phải thực hiện điều tra RIMs 2 lần (lần đầu và cuối). Trong tháng 3/2011vừa qua, dự án DPPR đã tổ chức điều tra RIMs lần cuối trên hiện trường. Mục tiêu của của đợt điều tra lần cuối này là đánh giá tác động mà dự án mang lại sau 6 năm thực hiện. Một số chỉ số đánh giá tác động chính như: chỉ số tài sản hộ gia đình, chỉ số dinh dưỡng của trẻ em, khả năng biết đọc viết, tiếp cận với nước sạch, công trình vệ sinh… Dự án đã thành lập các nhóm khảo sát, trực tiếp đến từng hộ gia đình để phỏng vấn và cân đo trẻ em. Tổng số 900 hộ gia đình tại 30 cụm mẫu trên địa bàn 5 huyện dự án đã được điều tra. Sau đợt điều tra tại hiện trường, hiện nay BQL dự án Tỉnh đang nhập liệu bảng hỏi theo phần mềm chung của IFAD. Báo cáo của cuộc điều tra RIMs lần cuối sẽ được gửi cho nhà tài trợ, các ngành liên quan trong thời gian tới.

Thu Hằng - KMO Hà Giang
0

Dù chưa phải mà là điển hình tiêu biểu nhưng nông dân xã Long Thới của huyện Chợ Lách đang tận dụng được giá trị của cách làm ăn hợp tác. Những hoạt động ban đầu đang mở ra nhiều cơ hội mới, đặc biệt với người nghèo nơi đây.
Anh Nguyễn Văn Lâm – Chủ tịch Hội Nông dân xã Long Thới cho biết: “Long Thới hiện có 33 tổ, nhóm nghề nghiệp. Nhưng thời gian qua do chưa có sự phối hợp nhịp nhàng nên đa số chưa thật sự hiệu quả. Hai năm trở lại đây, khi có sự tác động của dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (BDRP Bến Tre), chúng tôi được tập huấn bày bản hơn về cách quản lý nhóm. Đặc biệt là thành viên nhóm được tham gia các lớp tập huấn, các chuyến học tập kinh nghiệm nên đã tạo được sự phấn khởi và có tác động tích cực đến cách làm của bà con nông dân”. Trên cơ sở lấy thành viên nhóm cũ làm nòng cốt, Ban Phát triển xã Long Thới tổ chức thành lập thêm một số nhóm hợp tác, theo hướng dẫn của DBRP. Bên cạnh việc được tham gia các lớp tập huấn khoa học do các kỹ sư, kỹ thuật viên đảm nhiệm, bà con trong các tổ còn tổ chức học kinh nghiệm lẫn nhau. Theo anh Đinh Thanh Tùng – tổ trưởng tổ bonsai, mai vàng (ấp Long Huê), cách làm của tổ là mỗi tháng một lần họp luân phiên tại vườn của thành viên. Kết hợp kiến thức đã được tập huấn với thực tế nên qua những lần sinh hoạt, chất lượng tay nghề, kiến thức về chăm sóc hoa kiểng nâng lên thấy rõ. “Cũng chính vì điều này mà ngoài 22 thành viên của tổ, nhiều bà con khác cũng tham gia sinh hoạt. Chúng tôi đang đề nghị tách và lập thêm nhóm mới” – anh Tùng nói.
Không chỉ học tập kỹ thuật, từ các tổ nhóm này mà nhiều loại cây trồng mới, cách làm ăn mới đã đến được với người dân. Chẳng hạn, măng tây xanh là một giống cây trồng mới, hiệu quả kinh tế cao đang được người dân tại đây cùng nghiên cứu thử nghiệm. Hay như, có những cây giống cũ như cọ, trúc đốm, trúc xanh, vạn thiên thanh, nguyệt quế Thái, ngũ gia bì…, nhưng cách làm mới đã tạo được nguồn thu nhập đáng kể. Đó là bà con không phải trồng loại cây này để bán kiểng như trước mà chuyển sang trồng bán lá. Anh Đặng Văn Thanh - tổ trưởng tổ hoa lá, là người khởi sự nghề này đồng thời cũng là người tổ chức thu mua và cung cấp giống cho người dân trong vùng, cho biết dù chỉ mới hai năm nhưng tổ hoa lá đang hoạt động rất rôm rã. Hầu như nhà nào trong vùng này cũng có kiểng lá. Lợi thế của kiểng lá là cho thu nhập hàng ngày, không tốn nhiều đất cũng không phải bỏ nhiều vốn nên rất thích hợp với người nghèo. Hơn nữa, kiểng lá trồng trong bóng râm nên có thể kết hợp trồng xen. Anh Thanh nhẫm tính: “Chỉ cần 200m2 đất trồng cọ và trúc đốm thì mỗi tháng thu nhập cũng khoảng 1 triệu đồng”.
Tổ hoa lá ban đầu có 18 hộ, nay tăng lên 33 hộ, trong đó có 8 hộ nghèo. Năm 2010 có hộ của anh Nguyễn Văn Liếp Tư thoát nghèo và cất được căn nhà tươm tất. Còn những hộ còn lại, theo anh Nguyễn Văn Lâm, sẽ thoát nghèo trong năm nay. Anh Liếp Tư chia sẻ: “Việc lập tổ nhóm, nông dân chúng tôi có cơ hội tham quan thực tế, được học kinh nghiệm nên đã mạnh dạn đầu tư. Nông dân mà, nếu không được tận mắt thì không tự tin”.
Đầu ra của kiểng lá hiện đang rất ổn định nhưng theo anh Thanh, hiện có nhiều khách hàng đặt với số lượng lớn nhưng anh không dám nhận. Mong muốn của anh là ngày càng có nhiều tổ hoa lá như ấp Long Huê, để người dân được liên kết chặt hơn nữa trong sản xuất và cùng nhau làm giàu.
Sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, manh mún vẫn đang là vấn đề của hầu hết các ngành nghề. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, vẫn có những sản phẩm có chất lượng, tạo được chỗ đứng thương trường, nhưng khi được yêu cầu cung cấp với số lượng lớn thì lại không thể đáp ứng, vì không đủ nguồn cung. Đây cũng chính là vấn đề được bàn nhiều trong quá trình thiết kế Dự án DBRP. Xây dựng tổ, nhóm hợp tác trong sản xuất, kinh doanh được xem là bước khởi đầu quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu này. Hỗ trợ các hoạt động cải thiện năng suất nông nghiệp, nâng cao chất lượng nông sản đáp ứng yêu cầu thị trường, thực hiện hợp đồng bao tiêu và liên kết thị trường… là những hoạt động mà DBRP đã và đang làm nhằm đẩy mạnh sản xuất và tăng thu nhập, giúp người dân nông thôn thoát nghèo bền vững.
DBRP BEN TRE
Đoàn đánh giá chương trình quốc gia của IFAD do ông Basil Kavaisky làm trưởng đoàn vừa có chuyến làm việc tại Hà Tĩnh.

Trong ngày làm việc đầu tiên tại Hà Tĩnh, Đoàn đã được Giám đốc dự án Phan Thành Biển báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện dự án, những thuận lợi, khó khăn và một số đề xuất kiến nghị.
Sáng ngày 09/3/2011 Đoàn đã tiến hành làm việc với các đơn vị đối tác thực hiện của Dự án như: Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Hà Tĩnh, Hội Nông dân, Sở Nông nghiệp và PTNT. Cũng trong chiều ngày 09 đoàn tiếp tục đến làm việc với Sở Kế hoạch & đầu tư, Hội Phụ nữ để tìm hiểu một số vấn đề về dự án và tình hình chung của tỉnh.
Ngày 10/3, đoàn tiến hành đi kiểm tra thực địa tại xã Thạch Xuân, huyện Thạch Hà. Tại đây đoàn đã tham quan một số mô hình sản xuất tập thể có hiệu quả và sau đó có cuộc họp với UBND huyện Thạch Hà. Cũng trong ngày đoàn đến tham quan, thực địa tại xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc và xã Sơn An huyện Hương Sơn.

Nguyễn Đại Tài