Pages

Từ ngày 1-16 tháng 12 năm 2009, đoàn chuyên gia của IFAD (do ông Richard Anson làm trưởng đoàn) đã phối hợp với tỉnh Tuyên Quang thiết kế dự án theo Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững.

Sau khi làm việc với Dự án RIDP và các cơ quan, ban, ngành liên quan, đoàn đã đi thực địa tìm hiểu ý kiến tham vấn của người dân và chính quyền các cấp ở 3 xã của huyện Hàm Yên và Chiêm Hoá.


Trong cuộc họp cuối cùng với UBND tỉnh Tuyên Quang, đoàn đã thông qua biên bản ghi nhớ về thiết kế chương trình, dự án. Dự kiến trong giai đoạn 2011-2015 IFAD sẽ hỗ trợ tỉnh Tuyên Quang 25 triệu USD cho chương trình phát triển nông nghiệp bền vững.

Nguồn vốn của IFAD sẽ tập trung đầu tư hỗ trợ phát triển thị trường và nông thôn miền núi cho các xã nghèo, vùng sâu, vùng xa và có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số; nhằm nhân rộng và phát huy những kết quả và bài học kinh nghiệm của dự án RIDP, với phương pháp toàn dân tham gia và phân cấp mạnh mẽ cho cơ sở để đạt được mục tiêu nâng cao mức sống nhanh và bền vững cho người dân nông thôn của Tỉnh.


Lương Ngọc Hường – KMO Tuyên Quang

Trong quý 4 năm 2009 Dự án DBRP Cao Bằng triển khai tập huấn về thực hiện và quản lý dự án tại 5 huyện còn lại trong 10 huyện được dự án IFAD tài trợ gồm: Thạch An, Phục Hòa, Hòa An, Quảng Uyên, Trùng Khánh. Đối tượng được tập huấn bao gồm: cán bộ dự án cấp huyện và xã, các trưởng xóm của các xã dự án, cán bộ phối hợp của các phòng ban liên quan cấp huyện…

Nhận thấy đây là một bước đầu quan trọng để việc triển khai dự án được thuận lợi và đạt hiệu quả cao tại các huyện mới này, lãnh đạo BQLDA đã tổ chức 1 cuộc họp với cán bộ dự án các cấp và các bên có liên quan để lấy ý kiến về nội dung tập huấn, phương pháp truyền đạt… nhằm đảm bảo sau khóa tập huấn các đối tượng được tập huấn sẽ nắm được những kiến thức nhất định về mục đích, ý nghĩa, nội dung, quy mô và tầm quan trọng của dự án, cũng như hiểu được lợi ích và trách nhiệm của mình khi tham gia vào dự án.



Dưới sự chỉ đạo sát sao của ban giám đốc cùng với sự phối hợp nhiệt tình từ phía huyện, xã, các các bộ của dự án đã mở được 5 lớp tập huấn, với sự tham gia của 608 học viên. So với đợt tập huấn lần 1 vào Quý I năm 2009 cho 5 huyện đầu của dự án, các lớp tập huấn lần này chặt chẽ hơn về mặt tổ chức và nội dung. Các cách trình bày, tiếp cận học viên cũng sáng tạo và phù hợp với điều kiện địa phương do đã rút kinh nghiệm từ đợt tập huấn đầu. Học viên đã tham gia hăng hái hơn trong quá trình học, đặt ra những câu hỏi cũng như đóng góp những ý kiến giúp cán bộ dự án cấp tỉnh hiểu rõ hơn về đặc điểm địa phương để có những điểu chỉnh phù hợp trong khi triển khai dự án về sau.

Ông Luân Văn Voỏng, trưởng xóm Khấy Tấu, xã Hồng Nam, huyện Hòa An cho biết: “Lâu nay gia đình tôi và bà con trong vùng chỉ trồng cây lúa, cây ngô, cây sắn để ăn trong gia đình và nuôi con trâu con bò để lấy sức kéo. Cũng có lúc mua bán trao đổi với người cùng làng cùng xóm nhưng chưa hiểu biết thế nào là kinh doanh, là sản xuất hàng hóa. Bây giờ, có dự án đến tôi mong dự án sẽ giúp chúng tôi biết cách phát triển kinh tế gia đình.”

Ông Hoàng Thái, chủ tịch huyện Hòa An, cũng cho biết thêm: “Từ xưa đến nay người dân chỉ nghĩ là làm sao đủ ăn thôi chứ chưa nghĩ được là sản phẩm của mình có thể trở thành hàng hóa để bán ra ngoài, với những tư tưởng đó nên người dân chưa thể thoát nghèo được. Nay được dự án hỗ trợ, thay đổi cách nhìn cách nghĩ, thay đổi tập quán sản xuất và hướng người dân đến với thị trường, tôi mong dự án sẽ đem lại cho bà con nơi đây cuộc sống ấm no hơn.”

Những mong mỏi của người dân địa phương sẽ là động lực để giúp cho dự án triển khai hoạt động thành công và mang lại nhiều lợi ích, cũng như giúp cho đời sống của bà con nơi đây ngày một được cải thiện.

Phương Mạnh – KMO DBRP Cao Bằng

Ngồi trong cái gió se lạnh hiếm hoi của một ngày cuối tháng Tư, anh Vàng A Tu ngắm nhìn quang cảnh mọi người chen chúc xung quanh mình và mùi bánh mì bít tết thơm lừng mà lòng náo nức, phấn chấn. Anh đang ngồi trong khuôn viên của Siêu thị Big C, một siêu thị lớn vào loại nhất nhì thành phố Hà Nội. Ở đây hôm nay đang diễn ra Hội nghị thử nếm thịt bò Mông, giống bò của người Mông Cao Bằng quê hương anh. Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Cao Bằng mời các anh tới đây để giới thiệu giống bò địa phương mình cho khách hàng tiềm năng ở thủ đô Hà Nội.

Tu khẽ đưa mắt nhìn sang chiếc thủ bò đen bóng miệng ngậm chiếc đuôi mà người ta đặt trên đống nước đá lạnh để cho quan khách được tận mắt chiêm ngưỡng. Chiếc thủ bò to tướng vểnh 2 chiếc sừng cong cong kiêu hãnh ngất nghểu trên đống nước đá nhìn vào đám người đang vây kín mấy bác đầu bếp đội mũ và mang tạp dề trắng.



Các bác đang luôn tay lật những miếng bít tết thơm lựng trên chảo mỡ, và vớt ra những chiếc khay lớn bên cạnh. Mấy chị phục vụ cắt thịt thành những miếng nhỏ, bày bên cạnh bánh mì đã thái lát sẵn. Nướt sốt bơ và mù tạt vàng hươm đựng trong những thẫu thủy tinh trong suốt trông đến là bắt mắt. Chả thế mà mẻ thịt nào xong mới bỏ ra khay là đã hết veo ngay.

Các thực khách trung niên vừa nhấm nháp bít tết, hớp chút rượu vang vừa gật gù tán thưởng vị ngọt mềm của thịt, chừng như đang cân nhắc xem có xứng đáng với những lời giới thiệu trên băng rôn quảng cáo hay không.

Các thực khách thanh niên thì mặt mày rạng rỡ trêu đùa lẫn nhau. Quầy hàng thử nếm này đối với họ chẳng khác gì một bữa tiệc barbecue ngoài trời lãng mạn có đủ đồ ăn ngon và rượu miễn phí. Phần lớn thực khách tỏ ra hài lòng với chất lượng thịt bò Mông và tin tưởng vào độ an toàn thực phẩm cao vì giống bò này được các hộ gia đình dân tộc Mông chăn thả trên những vùng núi cao của tỉnh Cao Bằng, nơi bò chỉ ăn cây cỏ và uống nước nguồn thiên nhiên, hoàn toàn xa lạ với hoóc môn tăng trưởng, không có tồn dư kháng sinh. Trong các phiếu đánh giá, phần lớn khách hàng đều bày tỏ nguyện vọng có được nguồn cung cấp thịt bò Mông chất lượng cao đều đặn vào thị trường Hà Nội. Giám đốc Big C cũng cho rằng với chất lượng không thua kém gì thịt bò Úc, Mỹ, bò Mông Cao Bằng có giá thành thấp hơn nhiều, chắc chắn sẽ là lựa chọn hàng đầu của các nhà nội trợ. Ông dự kiến Big C sẽ đặt hàng lâu dài với khối lượng lớn để phục vụ được nhu cầu của thị trường Hà Nội.

Tu khe khẽ mỉm cười một mình. Anh đang nghĩ đến 2 con bò của anh ở nhà. Con Đen anh mua từ trước tết Nguyên Đán. Con Đỏ thì mới mua tháng trước. Hai con đều to lớn hơn cả con bò thịt hôm nay. Đã nhiều thương lái đến dạm hỏi trả cho gần hai chục triệu đồng một con. Nhưng anh còn chần chừ. Anh còn muốn để 2 con bò giúp vợ anh vỡ cái đất làm nương. Hai con bò chưa đầy ba tuổi còn trẻ khỏe lắm, còn lớn thêm được nhiều nữa. Với lại, mắt anh sáng lên lấp lánh, mặt như dãn nở thêm ra khi nghĩ về cái lí do quan trọng nhất này, với lại anh còn muốn dắt con Đen con Đỏ đến hội thi bò xuân. Xã Vần Dính quê anh chưa năm nào hụt cái giải nhất ở hội bò xuân của huyện và tỉnh cả. Năm ngoái con Vàng của ông nội hai thằng con anh đã dành giải nhất. Được thưởng những một triệu đồng. Hai thằng cu được cưỡi bò từ hội về thích lắm cười nắc nẻ. Năm nay, chính anh sẽ tự tay bế chúng đặt lên cổ con Đen con Đỏ của gia đình mình. Chúng nó sẽ thích phải biết.

Nghĩ đến đây mắt anh Tu lại mơ màng. Anh lại nghĩ đến vợ. Nó về làm dâu nhà anh từ năm 16 tuổi. Ở với nhau năm sáu năm giời, được 2 mặt con với nhau rồi mà đến cái chợ huyện nó cũng chưa đặt chân tới. Nhà anh tít trên sườn núi, đi bộ đến huyện lị phải mất hai ngày đường. Mãi đến đầu năm nay con đường của nhà nước mới bò được đến xã. Anh đã tính đến chuyện bán đi một con bò để sắm lấy cái xe máy, đưa vợ đi chợ huyện, cả chợ tỉnh nữa. Cái con vợ anh, đến là chịu thương chịu khó, cả ngày trên rẫy mà không thấy kêu than nửa tiếng. Anh thương nó lắm, đi xa thế này anh nhớ nó, nhớ hai thằng cu lắm. Lần này về anh nhất định sắm cho vợ cho con cái xe máy, không tiếc con bò nữa. Cán bộ dự án nói rồi. Cứ có bò là bán được, bán cho siêu thị Hà Nội giá cao, không sợ bị thương lái ép giá. Từ giờ đến hội chợ xuân vẫn còn khối thời gian để anh chăm con bò khác mà đọ sức khoe tài. Gì chứ nuôi bò thì nhà anh là nhất xóm. Từ ngày bé xíu lẽo đẽo theo đuôi bò lên núi, anh đã được ông nội hai thằng cu giảng giải cho từ cách nhìn dáng bò để biết con nào khỏe con nào yếu, con nào còn lớn còn béo được nữa, con làm lụng được, con chỉ đáng để giết thịt. Anh thuộc từng loại cây cỏ bò ăn, những cây lá thuốc để bò phòng bệnh. Cán bộ dự án nói phải. Anh sẽ nuôi bò thịt để bán. Một năm cũng được hai ba lứa. Cái ông Siêu thị đã nói rồi, khách hàng đã nói rồi, thịt bò Mông ngon lắm, lại an toàn nữa, có bao nhiêu họ cũng mua hết, họ chỉ lo người Mông không đủ bò mà bán cho Hà Nội thôi.

Tu thấy phấn khởi lắm. Trước đây anh chỉ nghĩ đến nuôi một hai con bò giúp vợ làm cái rẫy, bò khỏe đẹp thì mang đi dự thi chứ đâu tính đến chuyện làm giàu. Nhưng hôm nay anh thấy tận mắt rồi, bài toán này rõ ràng quá. Nuôi bò thì anh làm được. Anh đã thấy cái cây cỏ của dự án rồi. Trồng cây cỏ này thì đảm bảo thức ăn cho bò quanh năm, anh có thể nuôi thêm được vài con bò nữa. Mua bò cũng có thể vay vốn tín dụng của dự án mà mua. Dự án cũng đã hứa sẽ có hỗ trợ kĩ thuật. Lần này về anh nhất định bàn với vợ, vận động ông nội ông ngoại, các anh em, thêm cả bà con trong xóm nữa cũng đầu tư nuôi bò thịt. Nhà cũng phải có cái ti vi mà xem chứ, mấy nhà dưới chân núi có cả rồi, lũ trẻ thích lắm. Xe máy nữa. Rồi còn quần áo cho vợ, tiền sách vở cho lũ trẻ đi học…

Trời mới lất phất mưa lúc sáng bây giờ đã hửng trở lại. Mặt trời lên cao rạng rỡ. Mọi người vẫn nói cười tấp nập xung quanh, quần áo xanh đỏ đủ màu đến là vui mắt. Một anh phóng viên đang phỏng vấn một chị người Mông ở góc phía bên kia. Ai cũng bảo sao con gái Mông đẹp thế. Chị ấy lỏn lẻn cười. Anh Tu lại nhớ vợ. Lần đầu tiên anh đi xa nhà xa vợ như thế này. Mai là được về với nó rồi, về bàn với nó cái dự định đang cháy bỏng trong đầu anh.

Phương Tiến Mạnh – KMO DBRP Cao Bằng
Biên tập – Đàm Thị Ngân – Phó giám đốc dự án
Từ ngày 16 đến ngày 19/11/2009, Ban Quản lý dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn (3PAD) Bắc Kạn đã lần lượt tổ chức “Hội thảo về giao đất lâm nghiệp có sự tham gia” tại 3 huyện dự án là Na Rì, Ba Bể, Pác Nặm.

Tham dự Hội thảo có đại diện của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên – Môi trường, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên – Môi trường các huyện dự án, Vườn Quốc gia Ba Bể, và cán bộ các xã trong vùng dự án. Ngoài ra còn có sự tham gia của đại diện Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên – đơn vị tư vấn về hoạt động rà soát đánh giá hiện trạng công tác quản lý đất lâm nghiệp cho Ban QLDA 3PAD.

Các đại biểu đến tham dự Hội thảo đã được Giới thiệu về phương pháp giao đất có sự tham gia của Dự án 3PAD và thông qua kết quả rà soát đất phục vụ cho công tác lập kế hoạch và giao đất lâm nghiệp của dự án.

Đây là hoạt động nhằm triển khai nội dung của Hợp phần 1 – Quản lý đất lâm nghiệp bền vững và công bằng, hoạt động này cũng nằm trong kế hoạch công tác và ngân sách năm 2009 của Ban QLDA 3PAD.

Phạm Thị Thúy Hà
(Ban QLDA 3PAD tỉnh Bắc Kạn)
953 cán bộ thú y đang nỗ lực công tác ở các thôn bản thuộc 66 xã Dự án RIDP đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo an toàn dịch bệnh gia súc gia cầm và phát triển kinh tế của tỉnhTuyên Quang.

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc, sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của nhân dân, điều kiện tự nhiên của tỉnh thuận lợi cho việc chăn nuôi trâu, bò và các loại gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, một trở ngại lớn cho ngành chăn nuôi đó là dịch bệnh thường xuyên xẩy ra, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nông dân và toàn cộng đồng.

Đào tạo cán bộ thú y thôn bản

Xuất phát từ thực tế trên, ngay từ năm 2002 Dự án RIDP đã chú trọng đầu tư đến công tác thú y, đặc biệt là đội ngũ cán bộ thú y thôn bản, người trực tiếp hỗ trợ, giúp đỡ người chăn nuôi trong công tác phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Để có số cán bộ thú y thôn bản này, dự án đã đào tạo trên cơ sở lựa chọn, đề nghị của cộng đồng thôn bản đó là những người có sức khoẻ, khả năng và tâm huyết với công tác thú y. Từ năm 2002 đến năm 2009 đã có 953 cán bộ thú y thôn bản của 66 xã trong tỉnh được dự án đào tạo, nội dung đào tạo bao gồm: Pháp lệnh thú y, các phương pháp chẩn đoán, phát hiện, điều trị một số bệnh thường gặp ở trâu, bò, lợn, gia cầm; phương pháp sử dụng các dụng cụ thú y và các loại thuốc thú y; phương pháp bảo quản và sử dụng vắc sin; phương pháp tiêm phòng cho gia súc, gia cầm; thực hành sử dụng dụng cụ thú y; các phương pháp tiêm, thiến hoạn gia súc, gia cầm. Những nội dung đào tạo này đã được tài liệu hoá thành sách cung cấp cho thú y viên, sau mỗi khoá đào tạo học viên được kiểm tra chất lượng và cấp chứng chỉ hành nghề.

Sau khi được tập huấn, cán bộ thú y thôn bản được dự án cấp bộ dụng cụ thú y gồm 18 loại dụng cụ, xe đạp và cho vay 500.000đ/người để hỗ trợ cán bộ thú y thôn bản có vốn quay vòng, chủ động phục vụ công tác khám chữa bệnh. Đội ngũ cán bộ này sau khi được đào tạo và trang bị đã hoạt động tích cực, phát huy được vai trò của mình trong công tác tiêm phòng và khám chữa bệnh cho vật nuôi ở địa phương, đặc biệt trong các đợt dịch bệnh hoành hành. Sau một năm hoạt động, Dự án tiếp tục tập huấn lại cho cán bộ thú y thôn bản về kỹ thuật và phổ biến những bệnh dịch mới phát sinh, biện pháp phòng chống, hướng dẫn sử dụng các loại thuốc thú y mới sản xuất. Hoạt động này giúp củng cố kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp nhận những tiến bộ kỹ thuật mới về thú y phục vụ cho công tác tại cơ sở của đội ngũ cán bộ thú y thôn bản. Ngoài ra dự án RIDP còn hỗ trợ đào tạo tập huấn cho 15 cán bộ thú y tỉnh, huyện về kỹ thuật chẩn đoán bằng phương pháp ELISA. Xây dựng 5 trạm thú y huyện, phòng chẩn đoán thú y tỉnh, đã thực hiện xét nghiệm và chẩn đoán hơn 1.588 loại mẫu bệnh phẩm đối với trâu, bò… và sản phẩm sữa. Theo ông Hồ Minh Phong trạm trưởng trạm thú y huyện Chiêm Hoá: “ Từ năm 2002 đến năm 2007 trên địa bàn toàn huyện không xẩy ra ổ dịch gia súc, gia cầm nào, đặc biệt đã ngăn chặn được dịch lở mồm long móng không bị lây lan từ địa bàn lân cận vào huyện. Trong năm 2008-2009, dịch tụ huyết trùng xẩy ra ở một số xã dự án song nhờ có đội ngũ cán bộ thú y thôn bản phát hiện đã báo cáo và xử lý kịp thời nên dịch bệnh được dập tắt trong thời gian ngắn, không để lây lan trên diện rộng và thiệt hại do dịch gây ra ở mức thấp nhất”.

Hiệu quả từ đầu tư của dự án

Hiện nay, đội ngũ cán bộ thú y thôn bản đã đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại địa phương. Bên cạnh đó, các cán bộ thú y thôn bản còn tư vấn cho bà con về phương pháp tổ chức chăn nuôi, thay đổi dần thói quen lạc hậu trước đây, giúp bà con nông dân đầu tư vào chăn nuôi. Ông Đào Xuân Nhài, nông dân xã Lăng Quán, huyện Yên Sơn nói: “Dịch bệnh mấy năm gần đây được khống chế, gia đình tôi đầu tư thêm 20 triệu đồng vào chăn nuôi gà sạch cung cấp cho các nhà hàng ở thị xã, giá cả ổn định, thu nhập cũng khá”.

Tỷ lệ tiêm phòng hàng năm tại Tuyên Quang đạt trên 65% tổng đàn gia súc, gia cầm, góp phần ngăn chặn không để dịch bệnh sảy ra. Các thú y viên thôn bản đã thu được 3,078 tỷ đồng từ các hoạt động dịch vụ thú y (năm 2008 thu được 875,8 triệu đồng). Bình quân thu nhập từ dịch vụ thú y của cán bộ thú y thôn bản/người/năm trong năm 2006 là 663.000đ; năm 2008 là 1.063.000; 8 tháng đầu năm 2009 là 850.000đ.

Để có được kết quả này, đội ngũ cán bộ thú y thôn bản đã không ngừng học hỏi kinh nghiệm, tự nghiên cứu tài liệu, đầu tư phục vụ công tác khám chữa bệnh. Đến nay, phần lớn cán bộ thú y thôn bản đã có thể tự chữa được những loại bệnh cho đàn gia súc, gia cầm mà trước đây bà con phải nhờ đến cán bộ thú y xã, huyện.


Chị Hà Thị Huyền, nông dân ở thôn Đồng Quân xã Đạo Viện chia sẻ: “Gia đình tôi biết ơn anh Hải cán bộ thú y thôn lắm, hồi tháng 6 vừa rồi con trâu mẹ nhà tôi sinh khó, nếu không có anh tận tình, không ngại đêm hôm đến giúp thì có lẽ bây giờ không còn cả trâu mẹ lẫn nghé con”. Anh Ma Văn Thuận, cán bộ tổ chức cộng đồng xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, cho biết: “Nhờ có đội ngũ cán bộ thú y thôn bản mà công tác phòng chống dịch bệnh trong xã hiện nay rất tốt, không còn xảy ra tình trạng gà, lợn, trâu chết liên tục như trước, trong đợt dịch lở mồm long móng và cúm gà vừa qua, xã Đạo Viện không xảy ra trường hợp nào”.

Từ những hiệu quả thiết thực và lợi ích do hoạt động của đội ngũ cán bộ thú y thôn bản trong địa bàn Dự án RIDP mang lại, tháng 4/2009 chính quyền địa phương đã quyết định thí điểm đào tạo cán bộ thú y thôn bản theo mô hình của Dự án RIDP ở xã Tri Phú, huyện Chiêm Hóa (xã 135 ngoài vùng Dự án) và nhân rộng ở những xã còn lại trên địa bàn toàn tỉnh trong năm 2010.

Lương Ngọc Hường – KMO Tuyên Quang

Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) đang tài trợ cho rất nhiều dự án tại các quốc gia khác nhau. Do đó, IFAD đã thiết lập một hệ thống toàn diện để đánh giá và báo cáo về các kết quả và tác động của các chương trình quốc gia. Để đơn giản việc thu thập dữ liệu, phân tích và báo cáo về các chỉ số tác động, IFAD đã hướng dẫn các dự án thực hiện các cuộc khảo sát tác động đánh giá đầu kỳ, giữa kỳ, cuối kỳ và các cuộc điều tra, đánh giá hàng năm.

Dự án phân cấp giảm nghèo (DPPR) tỉnh Hà Giang triển khai thực hiện từ năm 2005. Cuộc điều tra đầu kỳ được tiến hành vào năm 2006, dự án không tiến hành cuộc khảo sát giữa kỳ do cuộc khảo sát đầu kỳ diễn ra muộn 1 năm, (do IFAD có hướng dẫn muộn). Năm 2009 dự án DPPR thực hiện cuộc điều tra hàng năm lần thứ 3. Số hộ được điều tra là 360 hộ ở 20 thôn được lựa chọn từ 352 thôn của 45 xã dự án.


Mục tiêu của cuộc điều tra khảo sát năm 2009 là thu thập các thông tin về kinh tế xã hội của hộ gia đình trong vùng dự án để đánh giá mức độ chuyển hoá từ Đầu ra đến Kết quả do các hoạt động của dự án đã đầu tư. Trước khi tiến hành cuộc điều tra, BQL tỉnh đã tổ chức tập huấn cho cán bộ điều tra trong 3 ngày từ 18 đến 20/8. Tham gia lớp học có 49 học viên (gồm cán bộ điều tra và giám sát). Ban quản lý (BQL) dự án tỉnh đã tiến hành các công việc chuẩn bị như: Xây dựng khung mẫu, chọn 20 thôn cụm mẫu; Xây dựng điều khoản tham chiếu cho cuộc điều tra; Lập kế hoạch. Bảng hỏi cho cuộc điều tra khảo sát năm 2009 được bổ sung và điều chỉnh cho sát với các hoạt động do dự án đầu từ năm trước. Cán bộ điều tra là cán bộ của BQL huyện, xã. Mỗi huyện thành lập một tổ điều tra. Mỗi tổ điều tra có từ 3 đến 6 nhóm, mỗi nhóm có 2 thành viên. Phó BQL huyện và cán bộ theo dõi đánh giá chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát quá trình điều tra ở các cụm mẫu trong huyện của mình. Tổng số cán bộ tham gia điều tra và giám sát là 49 người. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của cán bộ xã, thôn.


Cuộc điều tra khảo sát diễn ra trên hiện trường từ ngày 21/8 đến 01/9. Thời gian dành cho mỗi cụm mẫu là 2 - 3 ngày bao gồm cả thời gian di chuyển, phỏng vấn, kiểm tra số liệu và hoàn thiện bảng hỏi. Việc nhập liệu và phân tích số liệu trên phần mềm SPSS, báo cáo được hoàn thành vào cuối tháng 10.

Cũng như các năm trước, quá trình điều tra trên hiện trường năm 2009 cũng gặp không ít khó khăn, tuy nhiên các cán bộ điều tra đều tìm cách khắc phục. Ông Tạ Quang Bắc, cán bộ M&E huyện Yên Minh cho biết: “đường đến các thôn của huyện Yên Minh có địa hình rất phức tạp, đang là mùa mưa nên đường trơn trượt, nhiều khi phải trèo đèo, lội suối, mất cả vài giờ”. ông Hà Văn Tuyến, phó ban quản lý huyện Đồng Văn cũng cho biết thêm: “người dân sống rải rác nên việc đi lại mất rất nhiều thời gian, đa số người Mông, nhất là phụ nữ không nói được tiếng phổ thông nên phải có phiên dịch, việc chuyển tải một số nội dung câu hỏi từ tiếng phổ thông sang tiếng địa phương gặp không ít khó khăn”.


Các huyện Xín Mần, Quang Bình, Mèo Vạc cũng có khó khăn tương tự. Ngoài ra còn có một số khó khăn như: số đông người dân tính tuổi theo âm lịch và thường chỉ nhớ tên con vật của năm mà không nhớ số năm, do vậy nên cán bộ điều tra phải thảo luận lại với người dân và tính toán, quy đổi ra dương lịch. Nhiều người dân không nhớ diện tích gieo trồng và sản lượng thu được bao nhiêu. Phần lớn họ chỉ nhớ diện tích gieo trồng bằng kilogram giống, bằng bơ giống và sản lượng thu được bằng số lượng sọt, bung, bao... do vậy cán bộ điều tra phải tính toán và quy đổi ra đơn vị chuẩn. Một khó khăn lớn nhất là người dân không nhớ chính xác số lượng gieo trồng, số lượng thu hoạch, mặt khác tỷ lệ quy đổi từ đơn vị địa phương sang đơn vị chuẩn giữa các thôn là không giống nhau. Để khắc phục được các khó khăn đó, các cán bộ điều tra đã phải kiên nhẫn phỏng vấn, tính toán để có con số chính xác.

Sau khi phân tích kết quả điều tra năm 2009, đã cho thấy có một số thay đổi như sau: có 25,6% hộ thiếu đói có an ninh lương thực được cải thiện; 46,1% hộ có diện tích gieo trồng tăng thêm; 64,7% hộ sử dụng giống ít nhất 1 giống cải tiến trong các cây nông nghiệp, 5% hộ sử dụng giống cải tiến trong chăn nuôi; 91,6% hộ áp dụng kiến thức lớp tập huấn vào thực tế; 46,2% hộ có diện tích, sản lượng cây nông nghiệp tăng thêm; 35% hộ có gia súc tăng thêm; 39,9% hộ có đủ nước cho sản xuất lúa trong cả vụ và có 73,3% hộ có đủ nước sinh hoạt cả năm; 93,3% hộ có thu nhập bình quân trên người là 117.826 đồng/người/tháng, trong đó 30,36% có thu nhập dưới 200.000 đồng/tháng.

Kết quả trên cho thấy tình hình phát triển kinh tế xã hội ở các thôn, xã dự án đã có tiến triển so với các năm trước. Dự án đã phát huy được hiệu quả từ việc đầu tư các hoạt động, góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của các xã, huyện dự án.


Thu Hằng – KMO – DPPR Hà Giang

3
Thông qua hoạt động tài trợ của Dự án Phát triển Kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Bến Tre, từ ngày 08/12/2009 đến hết ngày 17/12/2009, Trung tâm Xúc tiến đầu tư kết hợp với Viện Quản lý và Kinh tế tại Tp. HCM mở lớp tập huấn về kỹ năng quản lý doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), hộ kinh doanh (ME) đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn 4 huyện của tỉnh Bến Tre là huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách và huyện Ba Tri.

Thông qua lớp tập huấn, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh sẽ được trang bị những kiến thức về kỹ năng quản lý doanh nghiệp như: quản lý kinh doanh, marketing, quản lý tài chính và nhân sự, lập kế hoạch kinh doanh và kỹ năng gia nhập thị trường. Mục tiêu hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Bến Tre cho nhóm đối tượng là doanh nghiệp, hộ kinh doanh là nhằm giúp họ nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp, mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh góp phần tạo công ăn việc làm cho người nghèo nông thôn hướng đến mục tiêu hoạt động của dự án là xóa đói giảm nghèo một cách công bằng và bền vững.


Hồng Hạnh – KMO Bến Tre
Hoạt động kết nối lao động nông thôn và doanh nghiệp của Dự án Phát triển Kinh doanh với người nghèo nông thôn tạo việc làm cho người dân nghèo ở vùng nông thôn, đáp ứng nguồn lao động cho các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Từ đầu năm đến nay, Dự án DBRP Bến Tre đã ký hợp đồng liên kết với 08 doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trong và ngoài khu công nghiệp của tỉnh Bến Tre nhằm kết nối lao động nông thôn và doanh nghiệp qua việc tổ chức các hội thảo giới thiệu việc làm.

Trước khi dự án DBRP Bến Tre thực hiện hoạt động kết nối lao động nông thôn với doanh nghiệp thì người dân nghèo ở vùng nông thôn không có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin việc làm, không được gặp để trao đổi trực tiếp cùng doanh nghiệp mà chỉ có thông tin việc làm qua các phương tiện truyền thanh, các trung tâm giới thiệu việc làm của tỉnh. Thông qua việc ký kết hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong và ngoài khu công nghiệp, Ban quản lý Dự án DBRP Bến Tre đã tổ chức 5 hội thảo giới thiệu việc làm tại các huyện Ba Tri, Mỏ Cày Nam và huyện Mỏ Cày Bắc, có hơn 500 người dân trong độ tuổi lao động tham gia hội thảo. Hoạt động kết nối lao động nông thôn và doanh nghiệp nhằm gắn kết nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp và nhu cầu việc làm của người dân nghèo nông thôn. Khi tham gia hội thảo việc làm, người dân đặt ra các vấn đề đối thoại trực tiếp để doanh nghiệp trả lời, từ đó họ có được thông tin về quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động khi làm việc tại doanh nghiệp và các chính sách doanh nghiệp áp dụng với người lao động, giúp họ tìm việc làm phù hợp, tạo thu nhập ổn định góp phần xóa đói giảm nghèo.

Hoạt động kết nối lao động nông thôn và doanh nghiệp là hoạt động thí điểm được Dự án DBRP Bến Tre thực hiện, bước đầu đã có những kết quả khả quan. Ông Nguyễn Trúc Sơn - Giám đốc Dự án DBRP Bến Tre cho biết: “Mục tiêu của chúng tôi cho hoạt động kết nối lao động nông thôn và doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người nghèo vùng nông thôn tìm được việc làm việc ổn định cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững và đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đảm bảo nguồn nhân lực, ổn định sản xuất”. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bến Tre có gần 3000 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu lao động của họ rất lớn. Vì vậy, năm 2010 Dự án DBRP Bến Tre sẽ tiếp tục thực hiện hoạt động liên kết lao động nhằm cung cấp đủ nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bến Tre và đáp ứng được nhu cầu việc làm cho người dân nghèo của vùng nông thôn nông thôn.
Hồng Hạnh – KMO Bến Tre
Dù công trình do dự án Phân cấp giảm nghèo (DPPR) hay bất cứ chương trình nào đầu tư, có quy mô lớn hay nhỏ nếu không có sự duy tu bảo dưỡng của người dân sau xây dựng thì công trình cũng không thể sử dụng lâu dài được.

Trung Thịnh là một xã khó khăn vùng sâu, vùng xa của huyện Xín Mần (tỉnh Hà Giang), cách trung tâm huyện lỵ 31 km về phía Đông. Với đặc điểm địa hình vùng cao núi đất bị chia cắt mạnh, về mùa mưa lượng mưa tương đối lớn nên thường gây sạt lở, rất khó khăn cho việc đi lại. Do vậy việc đầu tư xây dựng các tuyến đường và cầu, cống qua đường là rất cần thiết.

Nâng cấp tuyến đường từ thôn Pố Hà II đến cầu treo km 22 là một trong các công trình mà dự án DPPR đầu tư cho xã năm 2007. Các công trình còn lại gồm: cầu treo; 8 cống và 2 cầu bản đều do Ban quản lý (BQL) xã làm chủ đầu tư. Tuyến đường này được triển khai thực hiện từ tháng 9 năm 2007, với tổng số vốn đầu tư là 166 triệu đồng. Quy mô công trình với tổng chiều dài 3,3 km, bề rộng nền đường là 3,5 m, rãnh dọc 0,5 m. Để thực hiện tốt chủ trương của dự án DPPR là giao cho người dân thi công những công trình nhỏ, BQL xã Trung Thịnh đã giao cho người dân 2 thôn Pố Hà I và II tự tổ chức thi công công trình này. Ông Nguyễn Văn Toản – Trưởng ban quản lý dự án xã cho biết: “ngoài việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thôn bản, dự án còn tạo công ăn việc làm góp phần tăng thu nhập cho người dân, nhờ đó mà đời sống của người dân ngày một được cải thiện”. Sau hơn 3 tháng triển khai với trên 2.000 ngày công lao động, ngày 5/12/2007 công trình đã hoàn thành, nghiệm thu đưa vào sử dụng. Ngay sau đó, BQL xã đã bàn giao cho nhóm vận hành bảo dưỡng (VHBD) của thôn quản lý, duy tu và bảo dưỡng.

Nhiều chuyến công tác đến các thôn bản, tôi đã thấy cảnh có những tuyến đường vừa mở mới hoặc tu sửa, nhưng chỉ sau một trận mưa đã sạt lở, hư hỏng nặng. Hàng trăm, hàng ngàn m3 đất, đá vùi lấp mặt đường khiến cho các thầy cô giáo không đến được điểm trường, học sinh không có đường tới lớp, bà con không đến chợ được. Tuy nhiên với tinh thần đoàn kết chống lại điều kiện khắc nhiệt của thiên nhiên, đặt lợi ích chung của cộng đồng lên hàng đầu, người dân đều tự huy động sức người để sửa chữa, duy tu đảm bảo cho giao thông.

Ngày 10 tháng 8 năm 2009, trong chuyến đi điều tra thu thập thông tin hàng năm tại thôn Pố Hà II tôi đã gặp bà con nhân dân trong thôn đang cùng nhau tu sửa đường. Khoảng hơn một trăm người dân cả đàn ông và phụ nữ, không ai quản ngại đều đang tay cuốc, tay xẻng tích cực để khai thông được tuyến đường vừa bị sạt lở sau một trận mưa đêm. Tôi thực sự xúc động khi thấy cảnh có chị địu cả con nhỏ trên lưng, có chị đang cho con bú dưới bóng cây cũng tham gia với bà con trong thôn.

Quệt vội những giọt mồ hôi trên mặt, ông Ly Sào Sèng - Trưởng thôn Pố Hà II tâm sự: “Được dự án hỗ trợ nâng cấp tuyến đường này, bà con nhân dân thôn Pố Hà I và II đều rất phấn khởi nên khi đuờng bị hư hỏng và định kỳ hàng năm chúng tôi đều huy động người dân tu sửa, vận hành bảo dưỡng để việc đi lại thuận tiện và tuyến đường sử dụng được lâu dài”.

Dù công trình do dự án DPPR hay bất cứ chương trình nào đầu tư, có quy mô lớn hay nhỏ nếu không có sự duy tu bảo dưỡng của người dân sau xây dựng thì công trình cũng không thể sử dụng lâu dài. Do đó, để các công trình phát huy hiệu quả, phục vụ cho thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương rất cần có sự phối hợp của các cấp chính quyền cơ sở và người dân.


Bài, ảnh: Công Đỉnh - DPPR
Huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Ngày 17/11/2009, tại Trung tâm đào tạo phát triển nông thôn (ĐTPTNT) Phù Ninh - Phú Thọ đã tổ chức lễ tốt nghiệp cho 61 em học sinh lớp khuyến nông lâm khoá K4C và K5B. Đây là kết quả của việc liên kết đào tạo giữa Trung tâm ĐTPTNT với dự án Phân cấp giảm nghèo tỉnh Hà Giang. Các em học sinh được lựa chọn từ 45 xã dự án. Lớp khuyến nông K4C gồm có 30 em học sinh tốt nghiệp THCS được đào tạo nghề 18 tháng. Lớp K5B gồm 31 học sinh tốt nghiệp THPT được đào tạo 12 tháng. Kết quả xếp loại tốt nghiệp : 80% khá giỏi (49 em); còn lại 20% trung bình khá (12 em); không có học sinh trung bình và yếu. Tỷ lệ nữ giới là 30% (18 em). Với nghề được đào tạo, sau khi trở về địa phương các em sẽ có khả năng tìm kiếm việc làm phù hợp.

Thu Hằng – KMO – DPPR Hà Giang
0
Hỗ trợ cấp xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm theo định hướng thị trường có sự tham gia của người dân

Trong quý 3 và đầu quý 4 năm 2009, Ban Quản lý Dự án DBRP Bến Tre đã hỗ trợ 50 xã thuộc 8 huyện của tỉnh Bến Tre thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 định hướng thị trường có sự tham gia của người dân. Việc lập kế hoạch là một công tác thường xuyên hằng năm do Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhưng được DBRP hỗ trợ phương pháp trong lập kế hoạch. Các xã tiến hành lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thông qua tổ chức các cuộc họp dân và tham vấn cộng đồng để lấy ý kiến đóng góp của người dân về định hướng phát triển của xã trong năm, nhất là xác định được hướng sản xuất hàng hóa cụ thể theo chuỗi giá trị, xác định nhu cầu đầu tư hạ tầng kết nối với sản xuất và cụ thể các hoạt động xóa đói giảm nghèo cho xã. Nhóm đối tượng được lấy ý kiến và tham vấn bao gồm đại diện các nhóm nông dân, phụ nữ trong xã, đại diện các hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại diện các hộ nghèo và các cấp quản lý của xã. Phụ nữ và hộ nghèo là những nhóm đối tượng ưu tiên có ý kiến về hoạt động xóa đói giảm nghèo và nâng cao năng lực cho cộng đồng. Mỗi xã tổ chức ít nhất 5 cuộc họp và hội thảo lấy ý kiến của dân và các bên liên quan từ lúc khởi sự xây dựng đến thông qua kế hoạch tại xã. Qua thực hiện công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp mới, người dân trong xã biết rõ xã sẽ có những điểm mạnh, yếu gì và những cơ hội, rũi ro gì để xác định đúng hướng ưu tiên phát triển, nhất là xác định ngành hàng cụ thể để mở rộng sản xuất, kinh doanh, xác định chính xác các nguồn hiện có của xã để phát triển ngành hàng đó. Thông qua kế hoạch này, người dân sẽ cho ý kiến về sử dụng nguồn vốn được Dự án DBRP phân bổ để đầu tư các công trình hạ tầng kinh tế ưu tiên phát triển sản xuất và kinh doanh của xã. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm của cấp xã được xem là một bản kế hoạch hành động cụ thể giúp xã điều hành và quản lý tốt các nguồn lực, các nguồn trợ giúp cho xã, thể hiện cao tính dân chủ ở cơ sở qua lấy ý kiến cộng đồng, các hoạt động do xã đề ra đều hướng đến phát triển kinh tế gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững.

Lớp tập huấn về kỹ năng quản lý nhóm hợp tác và các nhóm tín dụng-tiết kiệm của Phụ nữ

Trong hai tuần qua, Dự án Phát triển Kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Bến Tre (DBRP Bến Tre) đã phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bến Tre tổ chức lớp tập huấn về kỹ năng quản lý, điều hành các nhóm hợp tác và quản lý nhóm tín dụng – tiệt kiệm cho các thành viên và hộ nghèo tại 24 xã của Dự án DBRP Bến Tre. Các lớp tập huấn được tổ chức từ ngày 02/11/2009 đến hết ngày 10/12/2009. Thành viên các nhóm hợp tác sẽ được Hội Phụ nữ tỉnh và Ban quản lý Dự án cung cấp các kỹ năng về điều hành, quản lý nhóm hợp tác nhằm hướng tới xây dựng các nhóm hợp tác phát triển bền vững, có khả năng tập hợp hội viên và liên kết các hoạt động sản xuất-kinh doanh nông thôn, thông qua đó tạo việc làm và thu nhập cho chính hội viên. Đối tượng chính của các lớp tập huấn là phụ nữ, vì vậy, Hội phụ nữ tỉnh sẽ tăng cường kiến thức về giới nhằm giúp phụ nữ nâng cao nhận thức về giới để tham gia hiệu quả vào các hoạt động phát triển chung của xã. Thông qua các hoạt động nâng cao năng lực này, các nhóm hợp tác sẽ có khả năng lập kế hoạch, tham gia xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội tại xã và đồng thời có quyền đề xuất các hoạt động nâng cao năng lực sản xuất và tiếp cận thị trường cho các thành viên của nhóm, nhất là người nghèo. Những đề xuất khả thi từ các nhóm sẽ được Dự án xem xét hỗ trợ để tạo điều kiện cho các nhóm mở rộng sản xuất và tiếp cận thị trường.

Hồng Hạnh - KMO Bến Tre
Dự án DPPR Hà Giang thực hiện thành công mô hình cải tạo giống bò theo phương pháp: lựa chọn những con đực giống đủ tiêu chuẩn để phối giống, đồng thời thiến thải loại những con không đủ tiêu chuẩn (còn gọi là bò cóc) bằng kìm chuyên dụng không gây chảy máu.

Chăn nuôi bò là nghề gắn bó lâu đời với người dân vùng cao Hà Giang. Tuy nhiên người dân chưa quan tâm chú trọng nhiều đến việc đầu tư nguồn lực để phát triển đàn bò, nhất là công tác chọn giống. Do vậy tình trạng giao phối cận huyết trong đàn bò vẫn khá phổ biến, dẫn đến tầm vóc, trọng lượng, sức sinh sản của đàn bò có nguy cơ giảm dần, tỷ lệ bò còi cọc cao. Khả năng chống chịu bệnh tật kém, chất lượng và tỷ lệ phối giống đạt thấp.Trước thực trạng đó, dự án Phân cấp giảm nghèo Hà Giang đã tổ chức thực hiện 6 mô hình cải tạo giống bò tại các huyện Mèo Vạc (1), Đồng Văn (2), Yên Minh (2) và Xín Mần (1). Mô hình được triển khai theo phương pháp: lựa chọn những con đực giống đủ tiêu chuẩn để phối giống, đồng thời thiến thải loại những con không đủ tiêu chuẩn bằng kìm chuyên dụng không gây chảy máu.
Thôn Chúng Trải, xã Cốc Pài, Xín Mần là nơi thực hiện một trong 6 mô hình đó. Tháng 12/2007, mô hình bắt đầu được triển khai thực hiện. Dự án đã tuyển chọn 2 con bò đực đủ tiêu chuẩn và 40 con cái của 42 hộ trong thôn tham gia mô hình. Sau đó dự án tổ chức tập huấn về kỹ thuật cải tạo giống bò cho 50 hộ trong thôn.

Tháng 11/2009, ban quản lý huyện Xín Mần đã tổ chức tổng kết đánh giá mô hình. Sau gần 2 năm thực hiện, kết quả mô hình đã thành công. Dự án đã thiến được 7 con bò cóc, phối giống thành công được 33/40 con, số bê được sinh ra là 25 con, còn 8 bò cái đang có chửa. Bê con sinh ra có trọng lượng trung bình 20 – 22kg và sau 3 tháng trọng lượng trung bình đạt 35 - 38 kg. Hình dáng của bê cân đối, thể hình đẹp, thể trạng tốt và giữ được các đặc tính tốt của bố mẹ, có sức đề kháng tốt với môi trường và dịch bệnh. Còn đối với bò cóc sau khi thiến trọng lượng tăng lên đáng kể. Trung bình mỗi con sau khi thiến 3 – 4 tháng tăng từ 35 – 40 kg.

Ông Chu Văn Vĩnh, điều phối viên nông lâm nghiệp huyện Xín Mần cho biết: “Trong số bê sinh ra không có con nào bị chết, trọng lượng cao hơn so với các con bê sinh không qua lựa chọn giống. Bò cóc sau khi thiến được người dân nuôi vố béo và bán với giá cao hơn so với phương thức nuôi truyền thống là 1 đến 1,2 triệu đồng”.

“Trước đây người dân sợ bò bị nhiễm trùng, bị chết nên không dám thiến bò. Dự án thiến bò không bị chảy máu, không ảnh hưởng đến sức khoẻ của bò nên người dân rất thích. Sau khi thiến nó không còn dứt mũi khi đang cày và không phá chuồng khi nhốt, người dân chúng tôi đỡ vất vả hơn”, ông Giàng Sấn Phử, một nông dân tham gia mô hình nói.

Ông Nguyễn Khắc Mâu – Phó ban quản lý huyện Xín Mần đánh giá: “ngoài sự thành công của mô hình này, người dân thôn Chúng Trải, xã Cốc Pài còn nắm được kỹ thuật cải tạo giống bò, kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh. Đặc biệt mô hình còn có hiệu quả trong việc thông tin tuyên truyền đến cộng đồng dân cư địa phương về kỹ thuật thiến trâu bò không chảy máu, phương pháp lựa chọn giống, chăm sóc và nuôi dưỡng đàn bò”.

Với việc thực hiện thành công mô hình này, Dự án DPPR Hà Giang đã từng bước giúp người dân nâng cao nhận thức, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với từng vùng mang lại hiệu quả kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập xoá đói giảm nghèo bền vững.


Thu Hằng – KMO DPPR Hà Giang