Pages

3

Khi nông dân nắm rõ thị trường

Được mùa mất giá - đó là thực trạng mà hầu hết nông dân đều phải chịu đựng khi vào vụ thu hoạch nông sản. Thế nhưng gần đây nhiều nông dân ở Bến Tre đã thoát khỏi tình trạng này, chủ động làm chủ giá cả nông sản.

Tổ liên kết trồng dừa ở xã Tân Thành Bình, Mỏ Cày Bắc (Bến Tre) phát triển việc bán cây giống - Ảnh: NGỌC HẬU

Đây là kết quả bước đầu của dự án “Phát triển kinh doanh với người nghèo (DBRP)” ở Bến Tre được triển khai từ năm 2008.

Đọc báo, nghe đài tìm hiểu thị trường

"Trước đây nông dân nghèo ít quan tâm tới tin tức thời sự, tin thị trường trên báo chí, radio, tivi, nhưng bây giờ họ rất quan tâm nghiên cứu và chia sẻ thông tin với nhau để bàn luận, dự báo xem thời gian tới trồng cây gì, nuôi con gì, bán cho ai..."

Ông Nguyễn Trung Chương (quyền giám đốc dự án DBRP Bến Tre)

Ông Nguyễn Văn Sốt ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc là một nông dân trồng cây có múi rất giỏi, đặc biệt là trồng bưởi hương hồng có trái nặng tới 7,2kg. Ngày ngày nghe đài, xem tivi thấy đưa tin nhiều về bưởi da xanh được nhiều nước châu Âu ưa chuộng và đoạt giải lớn ở các cuộc thi trái ngon nên ông bỏ công đi tìm hiểu.

Ông Sốt ra chợ TP Bến Tre hỏi giá bưởi da xanh thấy cao hơn bưởi thường gấp 2-3 lần. Ông mua về ăn thử thì thấy chất lượng không chê vào đâu được nên quyết định bỏ ra 800.000 đồng mua cây giống bưởi da xanh về trồng. Vài năm sau vườn bưởi da xanh của ông cho trái. Trái to hơn bưởi năm roi, đem bán giá cao gấp mấy lần, thu nhập của gia đình ông Sốt tăng vùn vụt. Nhiều nông dân trong xã học tập ông đốn bỏ cam, quýt, bưởi năm roi chuyển sang trồng bưởi da xanh.

Tham gia dự án DBRP, ông Sốt cùng nhiều nông dân trong xã liên kết thành lập tổ sản xuất bưởi da xanh theo tiêu chuẩn Việt GAP (tiêu chuẩn VN về chất lượng, an toàn và truy nguyên được nguồn gốc) và Global GAP (tiêu chuẩn toàn cầu về chất lượng, an toàn và truy nguyên được nguồn gốc). Ông Sốt nói về dự án của mình: “Tụi tui đều đọc báo, nghe đài mỗi ngày và biết chắc bưởi da xanh đạt tiêu chuẩn Global GAP sẽ xuất khẩu được giá cao hơn bán trong nước. Giá hiện nay không dưới 40.000 đồng/kg. Liên kết lại trồng theo tiêu chuẩn này sẽ có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Khi đó không còn ai ép giá, không còn chuyện thu hoạch phải bán đổ bán tháo nữa”.

Mới đây, ở xã Châu Hưng, huyện Bình Đại có mười hộ nông dân liên kết thành lập tổ sản xuất với 2ha trồng rau màu an toàn. Ông Lư Hồng Phương - tổ trưởng - nói nông dân trồng rau màu thường xuyên bị thương lái ép giá nên mọi người phải liên kết lại theo hướng dẫn của dự án DBRP để không còn bị thua lỗ khi tới vụ thu hoạch. “Hiện nay bà con nông dân chúng tôi đều phải nghe đài, đọc báo nghiên cứu tình hình thị trường rau an toàn. Sáng gặp nhau ngoài đồng chúng tôi thường thông báo cho nhau nghe tin tức gì vừa nắm được có liên quan đến rau màu” - ông Phương nói.

Tự đi tiếp thị sản phẩm

Dừa là cây đặc trưng của tỉnh Bến Tre, nhưng cách làm của tổ liên kết trồng dừa ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc đã đưa giá trị trái dừa Bến Tre cao thêm một bậc.

Nông dân tăng lợi nhuận thêm 30%

Theo ông Nguyễn Trung Chương, quyền giám đốc dự án DBRP Bến Tre, dự án này được triển khai tại 50 xã nghèo của tám huyện trong tỉnh. Kết quả ghi nhận sau hai năm rất khả quan: góp phần làm giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 10,15% trong năm 2009 xuống còn 4,15% năm 2010. Cũng theo ông Chương, khi nông dân tiếp cận được thị trường, tự quyết định giá trị nông sản của mình thì không còn bị ép giá, thua lỗ nữa. Bình quân nông dân tăng lợi nhuận thêm 30% so với trước đây. Cá biệt có những hộ kinh doanh hoa kiểng thu lợi nhuận tăng 100%.

Ông Huỳnh Thanh Khiết, tổ phó tổ liên kết dừa uống nước, cho biết tổ của ông hiện có 25 hộ tham gia với diện tích trồng dừa khoảng 5ha. Đầu tiên tổ học cách chăm sóc để dừa ra quả, cho nước ngọt hơn bình thường đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng (bón thêm 1-1,5kg phân kali/cây/năm). Bước tiếp theo là cử năm người đến các vựa mua dừa, các điểm kinh doanh dừa uống nước để khảo sát nhu cầu của người tiêu dùng cũng như các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng của vựa.

Kết quả là số diện tích dừa trồng theo cách này cho nước ngọt hơn, năng suất cũng cao hơn. Các vựa mua dừa Hoa Mỹ, Lê An ở TP Bến Tre đã đến kiểm chứng và quyết định mua dừa của tổ với giá cao hơn dừa bình thường. “Thu nhập của các tổ viên tăng thêm 30% so với lúc chưa liên kết vào tổ, chủ yếu do giá dừa cao hơn thị trường gấp rưỡi”- ông Khiết nói.

Cũng với cách làm như vậy, tổ liên kết trồng rau an toàn xã Châu Hưng, huyện Bình Đại đi tiếp thị sản phẩm ở các bếp ăn tập thể, quán ăn, nhà hàng, siêu thị ở tỉnh Bến Tre. Ông Phương cho biết đã có nhiều đơn vị cam kết sẽ mua. Hợp đồng sẽ được ký trong vài ngày tới. “Chúng tôi sẽ cung cấp rau an toàn cho các địa chỉ cụ thể, có hợp đồng hẳn hoi chứ không bán cho thương lái nên không lo bị ép giá nữa” - ông Phương nói.

Để “đầu ra” của vùng rau an toàn được ổn định lâu dài, tổ đã cử một tổ phó chuyên trách mảng thị trường tiêu thụ. Người này sẽ nắm giá cả hằng ngày, nghiên cứu nhu cầu của thị trường rồi thông tin lại cho mọi người biết để từ đó bàn bạc chọn loại rau màu trồng cho phù hợp. Và tổ phó thị trường còn có nhiệm vụ tìm đối tác để ký hợp đồng bán sản phẩm với giá đảm bảo cho người trồng rau có lãi.

(nguồn http://tuoitre.vn/Kinh-te/451440/Khi-nong-dan-nam-ro-thi-truong.html)



Trên cơ sở hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Quỹ phát triển nông nghiệp Quốc tế (IFAD), Dự án “Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn” (3PAD) do IFAD tài trợ chính thức được phê duyệt ngày 11/11/2008. Dự án được triển khai tại 3 huyện nghèo: Ba Bể, Pác Nặm, Na Rì trong thời gian từ 2009 đến 2015 với mục tiêu chính nhằm cải thiện sinh kế, giúp người dân giảm nghèo bền vững và công bằng.
Để tiếp tục xúc tiến, thu hút các dự án đầu tư và nông - lâm nghiệp, ngày 29/6, Ban Chỉ đạo Dự án 3PAD Bắc Kạn tổ chức Hội thảo xúc tiến đầu tư vào nông - lâm nghiệp và khởi động Quỹ Xúc tiến đầu tư vào nông - lâm nghiệp (APIF) thuộc Dự án 3PAD. Dự Hội thảo có Giám đốc Chương trình IFAD tại Việt Nam - bà Asuko Toda; Giám đốc Tổ chức phát triển Hà Lan tại Việt Nam (SNV) - ông Tom Derksen; đại diện Trung tâm xúc tiến đầu tư các tỉnh phía bắc. Tỉnh Bắc Kạn có đồng chí Lý Thái Hải - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; lãnh đạo các sở, ban ngành và các huyện, thị xã trong tỉnh; đại diện doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Nằm trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu đã được cung cấp những thông tin cơ bản về Quỹ Xúc tiến đầu tư nông - lâm nghiệp (APIF) thuộc Dự án 3PAD. Với tổng kinh phí 2 triệu đô-la Mỹ, APIF là công cụ xúc tiến tiếp cận thị trường bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư có thu nhập thấp tại các huyện Ba Bể, Pác Nặm, Na Rì thuộc địa bàn của Dự án 3PAD thông qua hỗ trợ các sáng kiến hợp tác kinh doanh của các nhà đầu tư. Đối tượng được hưởng lợi chính là các doanh nghiệp, các nhà sản xuất nhỏ, người dân có thu nhập thấp của tỉnh và những người tham gia vào các dự án đầu tư cùng người nghèo. APIF sẽ tài trợ trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và du lịch.
Cũng tại Hội thảo, các đại biểu đã được giới thiệu những nét khái quát, đặc trưng về tiềm năng, thế mạnh, cơ hội và thách thức cũng như các cơ chế thu hút, hỗ trợ dành cho các nhà đầu tư của tỉnh Bắc Kạn; nghe báo cáo tình hình phát triển công nghiệp, thương mại và một số dự án xúc tiến đầu tư của tỉnh; giới thiệu về tiềm năng du lịch, định hướng phát triển và chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch Bắc Kạn; giới thiệu về các sản phẩm nông - lâm nghiệp tiềm năng của tỉnh, thuận lợi và khó khăn trong việc đầu tư phát triển kinh doanh các mặt hàng nông lâm sản tại địa phương; kết quả nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Là một tỉnh miền núi, thời gian qua Bắc Kạn đã và đang cho thấy nhiều tiềm năng, thế mạnh, cơ hội dành cho nhà đầu tư: Bắc Kạn có cơ sở hạ tầng thuận tiện; thông thương, kết nối với các cửa khẩu Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội bằng ba đường quốc lộ; hệ thống điện lưới quốc gia và hệ thống thông tin liên lạc được đầu tư đến tất cả các xã, thị trấn; điều kiện khí hậu thủy văn thuận lợi với nhiều tiểu vùng khí hậu đất đai khác nhau, thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi; nguồn lao động dồi dào với gần 200.000 lao động có thể đáp ứng những yêu cầu cơ bản về trình độ đào tạo và tay nghề; Với tổng diện tích rừng là 420ha, sản lượng gỗ khai thác hàng năm trên 63m3, Bắc Kạn có điều kiện rất thuận lợi để phát triển lâm nghiệp, là địa điểm lý tưởng để đầu tư trồng rừng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất chế biến gỗ và nguyên liệu giấy. Bên cạnh đó, Bắc Kạn cũng có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại cây lương thực, cây ăn quả, hoa và rau sạch; ngoài ra, quỹ đất dồi dào cũng là một điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi đại gia súc và trồng cỏ chăn nuôi. Cùng với đó, tiềm năng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái ở Bắc Kạn cũng vô cùng rộng mở với những món quà thiên nhiên ưu đãi ban tặng (Hồ Ba Bể), các di tích lịch sử - cách mạng cùng nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc sinh sống trong tỉnh.
Tham dự Hội thảo, đại diện một số doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đã bày tỏ quan tâm đến các cơ chế hỗ trợ trực tiếp của Quỹ APIF; cơ sở đánh giá về tỷ lệ vốn đầu tư giữa doanh nghiệp và Quỹ APIF trong mỗi Dự án; điều kiện cấp phát kinh phí hỗ trợ của Quỹ. Đại diện Chương trình IFAD tại Việt Nam cũng đặt ra một số câu hỏi liên quan đến quá trình thẩm định, tính minh bạch trong thẩm định các dự án của APIF; bên cạnh đó, IFAD quan tâm đến việc lựa chọn nhà đầu tư của Quỹ APIF đối với các dự án lâm nghiệp, việc cân đối giữa công suất của các nhà máy chế biến gỗ với sản lượng trồng rừng của địa phương…
Phát biểu tại Hội thảo, đồng chí Lý Thái Hải - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư bày tỏ lời cảm ơn đến các nhà đầu tư trong thời gian qua đã dành nhiều sự quan tâm cũng như đầu tư vào các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, du lịch đối với tỉnh Bắc Kạn. Đồng chí cũng bày tỏ mong muốn và kêu gọi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tiếp tục dành nhiều sự quan tâm và có những dự án đầu tư phù hợp, nhằm tăng cường sự kết hợp, hỗ trợ giữa địa phương và cộng đồng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thu Hiền

Ngày 16/03/2011, Đoàn đánh giá IFAD do ông Kavasky Basil Gerald làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc tại Bắc Kạn. Dự buổi làm việc, về phía tỉnh có các đồng chí: Hoàng Ngọc Đường - Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo dự án; Hoàng Văn Giáp – Giám đốc Ban quản lý dự án 3PAD; đại diện các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch và Đầu tư, Hội Nông dân tỉnh. Mục đích của đoàn giám sát là xem xét tiến độ thực hiện các hoạt động dự án, sự tiến bộ và tác động của dự án đối với người dân. Đoàn đã được nghe báo cáo của Ban quản lý dự án Tỉnh báo cáo kết quả sau hơn 1 năm thực hiện dự án, các khó khăn vướng mắc gặp phải trong năm.
Hơn 1 năm qua, dự án đã và đang triển khai 117 hoạt động; tổ chức 833 khóa tập huấn, hội thảo với nhiều nội dung khác nhau cho hơn 19.716 học viên; thành lập 953 nhóm sở thích; 106 câu lạc bộ sinh kế và quyền phụ nữ; quy hoạch 43.000ha đất sử dụng, dự kiến đến tháng 6/2011 sẽ cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho 786 hộ nghèo và 474 hộ thiếu đất sản xuất tại 3 huyện triển khai dự án; triển khai 10/99 công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như: kênh mương, đường...; cung cấp 31/193 hợp đồng cung cấp dịch vụ cho nhóm sở thích, nhóm hộ nghèo trong vùng thực hiện dự án; xây dựng 9 vườn ươm quy mô hộ gia đình... Tính đến cuối năm 2010, dự án đã triển khai được 78/129 hoạt động, đạt 60% kế hoạch; giải ngân 24,45 tỷ đồng, đạt 35,4% kế hoạch năm 2010. Năm 2011, UBND tỉnh phê duyệt tổng kinh phí thực hiện dự án là 146 tỷ đồng gồm 132 hoạt động. Dự kiến đến cuối tháng 6/2011 hoàn thành 60% tiến độ công việc và giải ngân 50% kinh phí tỉnh giao.
Kết luận buổi làm việc, đồng chí Hoàng Ngọc Đường - Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo dự án tin tưởng rằng thông qua buổi làm việc, đoàn đánh giá sẽ có những đóng góp tích cực giúp cho việc triển khai dự án tại tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tiếp theo đạt kết quả tốt. Về phía tỉnh sẽ tiếp tục nỗ lực cùng người dân thực hiện dự án có hiệu quả.
Sau đó đoàn đã đi thăm và làm việc tại 3 xã Chu Hương, Phúc Lộc, Hà Hiệu và các thôn bản của huyện Ba Bể. Đi cùng đoàn có Ông Hoàng Văn Giáp – Giám Đốc Ban quản lý dự án 3PAD và đại diện cán bộ BQLDA tỉnh và huyện.
Tại buổi làm việc đại diện Ban quản lý dự án xã đã giải đáp ý kiến của đoàn giám sát đánh giá, tiếp đó đoàn đã đi thăm nhóm sở thích nuôi lợn nái thôn Bản Lùng, mô hình vay vốn 24% thôn Pác Chi xã Chu Hương, thăm mô hình vườn ươm cây lâm nghiệp xã Phúc Lộc.Tại đây đoàn công tác đã có thời gian tiếp xúc và trao đổi tìm hiểu những tâm tư và mong muốn của bà con dân tộc nghèo được hưởng lợi từ dự án.
Đoàn giám sát đánh giá IFAD Việt Nam đánh giá cao hiệu quả bước đầu của dự án tại Bắc Kạn. Dự án đã phát huy được hiệu quả từ việc đầu tư các hoạt động, góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của các xã, huyện dự án. Đồng thời hi vọng sự cộng tác của Đoàn giám sát IFAD Việt Nam có thể trợ giúp cho Ban Quản lý dự án 3PAD tại Bắc Kạn làm việc hiệu quả hơn. Từng bước giúp người dân nâng cao nhận thức, tăng thu nhập xóa đói giảm nghèo bền vững
Nông Diệu Thúy
0
Today Nguyen thanh Tung posted an interesting blog about the participation of stakeholders from the IFAD Country Programme in Viet Nam in the IFAD Learning Routes programme that took them to Peru. You can read it by going here.
Thực hiện đề xuất của IFAD sau đánh giá giữa kỳ, ban quản lý Dự án Phân cấp giảm nghèo (DPPR) tỉnh Quảng Bình đã triển khai nhiều hoạt động theo định hướng thị trường. Kết nối thị trường trên sóng truyền hình là một trong những hoạt động theo định hướng thị trường đã đạt được những thành công đáng kể.
Đầu năm 2010, Ban quản lý Dự án DPPR tỉnh phối hợp với Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Bình, Hội nông dân các cấp, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn và nhóm tư vấn hàng hoá thành lập êkíp xây dựng chương trình kết nối thị trường trên sóng truyền hình. Êkíp thực hiện chương trình đã triển khai lựa chọn, đánh giá các mô hình thành công trên địa bàn tỉnh và đưa lên truyền hình( chuyên mục địa chỉ cần biết) giới thiệu thông tin kết nối cho 36 điểm là các hộ sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp. Chương trình chú trọng thúc đẩy sự tham gia và tạo mối liên kết công tư, liên kết 4 nhà: Nhà nông, nhà kinh doanh, nhà kỹ thuật, nhà quản lý…tạo điều kiện thuận lợi cho ngừơi dân trong và ngoài tỉnh nắm bắt thông tin, tìm kiếm thị trường đầu ra, đầu vào và các dịch vụ phát triển nông nghiệp nông thôn.
Để có được thông tin về hiệu quả và tác động của chương trình sau một thời gian phát sóng, Ban quản lý Dự án DPPR tỉnh đã tiến hành điều tra thu thập các thông tin liên quan đến chương trình kết nối thị trường trên sóng truyền hình. Sau khi điều tra tại 36 điểm sản xuất kinh doanh tham gia chương trình nhóm đánh giá đã nắm bắt được nhiều thông tin hữu ích và có được kết quả đáng ghi nhận như sau:
Nhìn chung,chương trình kết nối thị trường đã đáp ứng được mục tiêu đề ra, bước đầu tạo dựng được mối liên kết rất hữu ích giữa nhà nông và các nhà cung cấp dịch vụ. 35/36 điểm được tham gia kết nối cho rằng doanh số của họ tăng lên so với trước khi tham gia chương trình, chỉ có 1 điểm doanh số không tăng là do ảnh hưởng của đợt lũ lụt cuối năm 2010. Số lượng khách hàng tiếp cận với các địa điểm kinh doanh qua nắm bắt thông tin trên sóng truyền hình cũng tăng rất đáng kể, đặc biệt có một lượng khách hàng đến từ các địa phương khác là một chỉ số phản ánh hiệu quả của chương trình. Khi được hỏi về những đánh giá của cơ sở đối với chương trình, 100% điểm kinh doanh cho rằng chương trình có tác động tốt đối với cơ sở của họ. Tính bền vững của chương trình rất khả quan : 33/36 điểm kinh doanh có nhu cầu tiếp tục tham gia chương trình và họ sẵn sàng chi trả kinh phí nếu như Dự án DPPR ngưng tài trợ cho chương trình.
Qua điều tra chọn mẫu một số hộ dân trên địa bàn tỉnh cho thấy:
Theo các địa chỉ đựơc Dự án cung cấp qua chuyên mục địa chỉ cần biết của Đài phát thanh truyền hình Quảng Bình người dân đã đến học hỏi kinh nghiệm và nhận được những thông tin bổ ích cho việc sản xuất kinh doanh. Đây là chương trình có hiệu quả và tác động tốt đối với các hộ sản xuất kinh doanh và người nông dân.
Chương trình không những có tác động tích cực đến tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh mà còn lan toả đến các địa phương lân cận, tạo sự chú ý cho các công ty doanh nghiệp người Quảng Bình kinh doanh trong cả nước tiếp cận, chia sẽ thông tin, giới thiệu cơ hội đầu tư, tạo mối liên kết công tư giữa nhà nước, tư nhân và người dân…
Ban quản lý Dự án DPPR tỉnh sẽ tiếp tục triển khai chương trình, đồng thời luôn thay đổi hình thức, sáng tạo để chương trình ngày càng phong phú hấp dẫn giúp người dân nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng thu nhập
Chương trình đặc biệt có ý nghĩa và tác động mạnh mẽ đối với những hộ nghèo, xa xôi ít có điều kiện tiếp cận thông tin thị trường.
Mô hình kết nối thông tin thị trường tren sóng truyền hình đã góp phần tích cực trong việc chuyển hướng hoạt động theo định hướng thị trường của Dự án DPPR Quảng Bình. Mô hình có tính bền vững và đáng được nhân rộng.
Diệu Hà - Ban quản lý Dự án DPPR Quảng Bình


Cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh là một trong bốn nội dung chính của dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (DBRP) Bến Tre. Năm 2010, dự án đã cơ bản tác động đến tỉnh trong lĩnh vực xây dựng khung pháp lý để hỗ trợ môi trường đầu tư và kinh doanh trong việc thu hút đầu tư tư nhân nhiều hơn.
Mặt khác, các hoạt động của hợp phần cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh đã góp phần tăng cường năng lực cho cán bộ các cơ quan của tỉnh trong thu hút đầu tư và kỹ năng xây dựng các kế hoạch hành động.
Về nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, trong năm qua dự án đã phối hợp với các ngành tỉnh tổ chức hội thảo Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2020; hỗ trợ Ban Quản lý các khu công nghiệp xây dựng chính sách thu hút đầu tư vào khu công nghiệp nhằm tạo nguồn lực đầu tư tư nhân và tạo việc làm cho lao động nông thôn.
Chính sách ưu đãi đầu tư vào khu công nghiệp đã được lấy ý kiến đóng góp từ cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý.
Dự án cũng đã tổ chức hội thảo Phát triển du lịch cộng đồng phục vụ giảm nghèo; cùng với Trung tâm Xúc tiến đầu tư (IPC Bến Tre) phổ biến sâu rộng chính sách đầu tư đã được tỉnh ban hành, trong đó có đưa thông tin và hướng dẫn kinh doanh về các góc thông tin tại 50 xã dự án.
Nhằm phát triển thị trường lao động, nhiều hội thảo giới thiệu việc làm cho thanh niên nông thôn được tổ chức ở các huyện. Ngoài ra, thông tin về cơ hội việc làm cũng được phát sóng trên truyền hình và tải lên trung tâm thông tin xã.
Đặc biệt IPC Bến Tre đã liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp và các nhà cung cấp lao động và nhiều hợp đồng cung ứng lao động với một số công ty đã được ký kết. Cho đến nay, hàng trăm lao động đã tìm được việc làm, qua sự phối hợp và hỗ trợ này.
Giải quyết vấn đề chất lượng lao động, dự án đã phối hợp với ngành chức năng tổ chức hội thảo Đào tạo và cung ứng nguồn lao động cho ngành công nghiệp Bến Tre.
Giải pháp mà hội thảo này đưa ra là sẽ xây dựng mô hình liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Đó là sự phối hợp trong xác định nguồn lao động thực tế ở các địa phương, sử dụng hiệu quả và hợp lý những chính sách của Nhà nước về lao động việc làm, đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thông qua việc nhà trường dạy lý thuyết, doanh nghiệp là nơi thực hành… Cách làm này nếu được thực hiện tốt sẽ giảm mối lo về lao động không có tay nghề của các doanh nghiệp.
Đồng thời với các tác động trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, dự án DBRP còn quan tâm về tăng cường năng lực cho các cơ quan trong các hoạt động liên quan đến đầu tư và xúc tiến đầu tư. Năm 2010, dự án tiếp tục chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng giao tiếp và sử dụng tiếng Anh đợt 2 cho 25 cán bộ của các sở, ngành tỉnh và huyện; tổ chức 2 đợt khảo sát và học tập kinh nghiệm trong nước về xúc tiến thương mại, đầu tư và về cải cách thủ tục hành chính cho các sở, ngành tỉnh; đào tạo về kỹ năng xúc tiến đầu tư cho một số sở, ngành tỉnh; tập huấn cho cán bộ cấp xã, huyện kỹ năng xây dựng và lồng ghép kế hoạch hành động giúp giảm nghèo. Đặc biệt, dự án đã hỗ trợ xây dựng Website cho Trung IPC Bến Tre để cung cấp thông tin đầu tư kinh doanh và quảng bá đầu tư cho tỉnh.
Theo đánh giá của các chuyên gia IFAD trong chuyến làm việc với Bến Tre trong năm 2010, dự án DBRP cơ bản tác động đến tỉnh trong lĩnh vực xây dựng khung pháp lý để hỗ trợ môi trường đầu tư và kinh doanh, thu hút đầu tư tư nhân nhiều hơn và tạo thêm việc làm cho người dân nghèo nông thôn.
Các hoạt động của hợp phần đã góp phần tăng cường năng lực cho cán bộ các cơ quan của tỉnh trong thu hút đầu tư và kỹ năng xây dựng các kế hoạch hành động. Điều này cũng đã được thể hiện qua đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp với Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam của cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ vừa công bố vào giữa tháng 3/2011.
Chỉ số PCI của Bến Tre năm 2010 tăng 5 bậc (từ hạng 15 năm 2009 lên hạng 10 năm 2010). Chỉ số này được xác định thông qua việc lấy ý kiến các doanh nghiệp theo 9 chỉ số thành phần: gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý.
Trên cơ sở kết quả đạt được, năm nay dự án DBRP sẽ tiếp tục hỗ trợ các bên liên quan xây dựng kế hoạch hành động nhằm định hướng cho các hoạt động phát triển môi trường đầu tư và kinh doanh; phối hợp với tỉnh tăng cường thu hút đầu tư tư nhân; hỗ trợ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND các huyện và 50 xã dự án xây dựng kế hoạch giảm nghèo.
Dự án cũng sẽ tiếp tục chương trình đào tạo cán bộ tỉnh, huyện và các sở ngành về đầu tư và kinh doanh, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và tổ chức các hoạt động hỗ trợ phát triển môi trường đầu tư và kinh doanh như: diễn đàn đầu tư kinh doanh, hội thảo phát triển, hội chợ thương mại phục vụ người nghèo…
DBRP Ben Tre
Cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh là một trong bốn nội dung chính của dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (DBRP) Bến Tre. Năm 2010, dự án đã cơ bản tác động đến tỉnh trong lĩnh vực xây dựng khung pháp lý để hỗ trợ môi trường đầu tư và kinh doanh trong việc thu hút đầu tư tư nhân nhiều hơn.
Mặt khác, các hoạt động của hợp phần cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh đã góp phần tăng cường năng lực cho cán bộ các cơ quan của tỉnh trong thu hút đầu tư và kỹ năng xây dựng các kế hoạch hành động.
Về nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, trong năm qua dự án đã phối hợp với các ngành tỉnh tổ chức hội thảo Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2020; hỗ trợ Ban Quản lý các khu công nghiệp xây dựng chính sách thu hút đầu tư vào khu công nghiệp nhằm tạo nguồn lực đầu tư tư nhân và tạo việc làm cho lao động nông thôn.
Chính sách ưu đãi đầu tư vào khu công nghiệp đã được lấy ý kiến đóng góp từ cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý.
Dự án cũng đã tổ chức hội thảo Phát triển du lịch cộng đồng phục vụ giảm nghèo; cùng với Trung tâm Xúc tiến đầu tư (IPC Bến Tre) phổ biến sâu rộng chính sách đầu tư đã được tỉnh ban hành, trong đó có đưa thông tin và hướng dẫn kinh doanh về các góc thông tin tại 50 xã dự án.
Nhằm phát triển thị trường lao động, nhiều hội thảo giới thiệu việc làm cho thanh niên nông thôn được tổ chức ở các huyện. Ngoài ra, thông tin về cơ hội việc làm cũng được phát sóng trên truyền hình và tải lên trung tâm thông tin xã.
Đặc biệt IPC Bến Tre đã liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp và các nhà cung cấp lao động và nhiều hợp đồng cung ứng lao động với một số công ty đã được ký kết. Cho đến nay, hàng trăm lao động đã tìm được việc làm, qua sự phối hợp và hỗ trợ này.
Giải quyết vấn đề chất lượng lao động, dự án đã phối hợp với ngành chức năng tổ chức hội thảo Đào tạo và cung ứng nguồn lao động cho ngành công nghiệp Bến Tre.
Giải pháp mà hội thảo này đưa ra là sẽ xây dựng mô hình liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Đó là sự phối hợp trong xác định nguồn lao động thực tế ở các địa phương, sử dụng hiệu quả và hợp lý những chính sách của Nhà nước về lao động việc làm, đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thông qua việc nhà trường dạy lý thuyết, doanh nghiệp là nơi thực hành… Cách làm này nếu được thực hiện tốt sẽ giảm mối lo về lao động không có tay nghề của các doanh nghiệp.
Đồng thời với các tác động trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, dự án DBRP còn quan tâm về tăng cường năng lực cho các cơ quan trong các hoạt động liên quan đến đầu tư và xúc tiến đầu tư. Năm 2010, dự án tiếp tục chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng giao tiếp và sử dụng tiếng Anh đợt 2 cho 25 cán bộ của các sở, ngành tỉnh và huyện; tổ chức 2 đợt khảo sát và học tập kinh nghiệm trong nước về xúc tiến thương mại, đầu tư và về cải cách thủ tục hành chính cho các sở, ngành tỉnh; đào tạo về kỹ năng xúc tiến đầu tư cho một số sở, ngành tỉnh; tập huấn cho cán bộ cấp xã, huyện kỹ năng xây dựng và lồng ghép kế hoạch hành động giúp giảm nghèo. Đặc biệt, dự án đã hỗ trợ xây dựng Website cho Trung IPC Bến Tre để cung cấp thông tin đầu tư kinh doanh và quảng bá đầu tư cho tỉnh.
Theo đánh giá của các chuyên gia IFAD trong chuyến làm việc với Bến Tre trong năm 2010, dự án DBRP cơ bản tác động đến tỉnh trong lĩnh vực xây dựng khung pháp lý để hỗ trợ môi trường đầu tư và kinh doanh, thu hút đầu tư tư nhân nhiều hơn và tạo thêm việc làm cho người dân nghèo nông thôn.
Các hoạt động của hợp phần đã góp phần tăng cường năng lực cho cán bộ các cơ quan của tỉnh trong thu hút đầu tư và kỹ năng xây dựng các kế hoạch hành động. Điều này cũng đã được thể hiện qua đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp với Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam của cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ vừa công bố vào giữa tháng 3/2011.
Chỉ số PCI của Bến Tre năm 2010 tăng 5 bậc (từ hạng 15 năm 2009 lên hạng 10 năm 2010). Chỉ số này được xác định thông qua việc lấy ý kiến các doanh nghiệp theo 9 chỉ số thành phần: gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý.
Trên cơ sở kết quả đạt được, năm nay dự án DBRP sẽ tiếp tục hỗ trợ các bên liên quan xây dựng kế hoạch hành động nhằm định hướng cho các hoạt động phát triển môi trường đầu tư và kinh doanh; phối hợp với tỉnh tăng cường thu hút đầu tư tư nhân; hỗ trợ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, UBND các huyện và 50 xã dự án xây dựng kế hoạch giảm nghèo.
Dự án cũng sẽ tiếp tục chương trình đào tạo cán bộ tỉnh, huyện và các sở ngành về đầu tư và kinh doanh, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và tổ chức các hoạt động hỗ trợ phát triển môi trường đầu tư và kinh doanh như: diễn đàn đầu tư kinh doanh, hội thảo phát triển, hội chợ thương mại phục vụ người nghèo…
DBRP Ben Tre
Sáng 19-4, đồng chí Nguyễn Thiện UVBTV TU, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì Hội thảo quy trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia theo định hướng thị trường của (moSEDP)
Các ngài Lothar- Cố vấn Trưởng GIZ (Tổ chức hợp tác kỹ thuật CHLB Đức tại Hà Tĩnh); Reichert- Cố vấn Trưởng GIZ tại tỉnh Trà Vinh cùng dự hội nghị
Quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, Chính phủ đã có nhiều chính sách trong công tác lập kế hoạch nhằm phát huy dân chủ ở cấp cơ sở, đồng thời thích ứng với bối cảnh nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở cấp cơ sở (xã, phường) vẫn chưa theo kịp với nhu cầu của thực tiễn, chưa đáp ứng được sự phát triển của thị trường và các cơ hội thị trường.
Đặc trưng của lập kế hoạch kinh tế- xã hội định hướng thị trường bao gồm những vấn đề gì? Thế nào là cơ hội thị trường ? Mục tiêu cụ thể, mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu bản kế hoạch được hiểu như thế nào?. Những thuật ngũ này đã được Tiến sỹ Trần Ngọc Hùng- Trung tâm Môi trường & PTNT trường Đại học Vinh trình bày tại hội thảo và được cụ thể hóa bằng cuốn sổ tay: Hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội định hướng thị trường hàng năm cấp xã (MoSEDP). Đây được coi là cuốn cẩm nang trong việc áp dụng lập kế hoạch hàng năm cấp cơ sở theo định hướng của thị trường sát với tình hình thực tế và đã được triển khai tại 6 xã điểm trong tỉnh như Phù Việt (Thạch Hà); Khánh Lộc, Tiến Lộc (Can Lộc); Xuân Mỹ, Xuân Viên (Nghi Xuân); Đức La (Đức Thọ)
Nhiều ý kiến của đại biểu dự hội thảo đều đánh giá cao những chỉ tiêu, cách thức trình bày cũng như phương thức tiếp cận vấn đề trong cuốn sách, đồng thời cũng chỉ rõ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện. “MoSEPD là thuật ngữ trong tiếng anh. Nếu tách ra SEDP nghĩa là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội còn Mo gắn vào là định hướng thị trường. Khó ở chỗ là thị trường luôn biến động nên đòi hỏi có sự thích ứng. MoSEDP mà IMPP (Dự án sự tham gia cải thiện thị trường cho người nghèo) làm được thời gian qua đã để lại trong tôi những ấn tượng tốt đẹp. Tuy vậy với những gì đề cập trong cuốn sách hướng dẫn ngoài quyết tâm phải có nguồn lực nếu không sẽ chỉ tồn tại ở một văn bản mà thôi” Ngài Lothar chia sẽ.
Phát biểu kết luận hội thảo Phó Chủ tịch Nguyễn Thiện nhiệt liệt đánh giá cao sự giúp đỡ của các tổ chức nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia GIZ đã dành cho tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua, đồng thời hy vọng thời gian tới tỉnh tiếp tục nhận được sự hỗ trợ có hiệu quả của các tổ chức cũng như cá nhân các ngài cố vấn. Đồng thời đề nghị Ban Điều phối dự án IMPP tiếp tục phối hợp với các chuyên gia rà soát, xem xét kỹ bản kế hoạch trình UBND tỉnh phê duyệt. Tháng 7 năm nay sẽ là thời gian triển khai lập kế hoạch theo hướng dẫn. “ Vẫn biết khó, nhưng “ném” vào rồi lại “nhảy” ra là chuyện thường, vì vậy các huyện cần phối hợp với Ban điều phối chỉ đạo các xã triển khai sớm chương trình này.
Tin, ảnh: Hoài Nam
Từ 12 đến 22 tháng 4 năm 2011, Đoàn đánh giá giám sát năm 2010 của IFAD đã đến làm việc tại dự án DPPR Hà Giang. Trưởng đoàn là bà Atsuko Toda – giám đốc chương trình quốc gia.
Dự án DPPR sẽ kết thúc vào cuối năm 2011, do vậy mục đích của đoàn giám sát năm nay là đánh giá việc thực hiện dự án trong năm 2010 và xây dựng các bài học kinh nghiệm để đảm bảo tính bền vững, xác định các yếu tố chính tạo nên thành công và những hạn chế ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án, phát triển và nhân rộng kế hoạch cho các kết quả đầu ra cụ thể. Phương pháp của Đoàn là thực hiện nhiệm vụ huy động có sự tham gia của các bên như cơ quan chính quyền các cấp, các ban ngành trong Tỉnh. Đặc biệt, hội thảo các bên liên quan được tổ chức tại tỉnh, huyện và xã để thu thập các kiến nghị và đánh giá dự án và bài học kinh nghiệm cũng như các biện pháp can thiệp trong tương lai để đảm bảo hoàn thành dự án, nhân rộng và quản lý tri thức của dự án.
Ngày 12,13/4, Đoàn đã họp tại Tỉnh với sự tham gia của cán bộ dự án và các Sở, Ban ngành. Sau đó Đoàn đi thăm và làm việc tại các xã, thôn bản của 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Xín Mần và Quang Bình.
Ngày 22/4, đoàn sẽ có buổi họp cuối cùng để báo cáo kết quả đợt đánh giá với UBND Tỉnh Hà Giang.
Thu Hằng - KMO Hà Giang

Dự án Phân cấp giảm nghèo tỉnh Hà Giang (DPPR) được triển khai thực hiện từ năm 2005. Đến tháng 9/2011 sẽ kết thúc toàn bộ các hoạt động trên hiện trường, tháng 3/2012 sẽ đóng toàn bộ dự án. Theo quy định của IFAD, mỗi dự án sẽ tổ chức điều tra RIMs 3 lần: lần đầu khi bắt đầu thực hiện dự án, lần 2 vào trước khi đánh giá giữa kỳ, lần 3 vào năm cuối cùng của dự án. Tháng 8/2006, ngay sau khi có hướng dẫn của IFAD, DPPR Hà Giang đã tổ chức điều tra RIMs lần 1. Dự án thực hiện đánh giá giữa kỳ vào tháng 3/2008. Do thời gian từ tháng 8/2006 đến 3/2008 quá ngắn, nên IFAD đã cho phép DPPR không phải điều tra RIMs giữa kỳ, chỉ phải thực hiện điều tra RIMs 2 lần (lần đầu và cuối). Trong tháng 3/2011vừa qua, dự án DPPR đã tổ chức điều tra RIMs lần cuối trên hiện trường. Mục tiêu của của đợt điều tra lần cuối này là đánh giá tác động mà dự án mang lại sau 6 năm thực hiện. Một số chỉ số đánh giá tác động chính như: chỉ số tài sản hộ gia đình, chỉ số dinh dưỡng của trẻ em, khả năng biết đọc viết, tiếp cận với nước sạch, công trình vệ sinh… Dự án đã thành lập các nhóm khảo sát, trực tiếp đến từng hộ gia đình để phỏng vấn và cân đo trẻ em. Tổng số 900 hộ gia đình tại 30 cụm mẫu trên địa bàn 5 huyện dự án đã được điều tra. Sau đợt điều tra tại hiện trường, hiện nay BQL dự án Tỉnh đang nhập liệu bảng hỏi theo phần mềm chung của IFAD. Báo cáo của cuộc điều tra RIMs lần cuối sẽ được gửi cho nhà tài trợ, các ngành liên quan trong thời gian tới.

Thu Hằng - KMO Hà Giang
0

Dù chưa phải mà là điển hình tiêu biểu nhưng nông dân xã Long Thới của huyện Chợ Lách đang tận dụng được giá trị của cách làm ăn hợp tác. Những hoạt động ban đầu đang mở ra nhiều cơ hội mới, đặc biệt với người nghèo nơi đây.
Anh Nguyễn Văn Lâm – Chủ tịch Hội Nông dân xã Long Thới cho biết: “Long Thới hiện có 33 tổ, nhóm nghề nghiệp. Nhưng thời gian qua do chưa có sự phối hợp nhịp nhàng nên đa số chưa thật sự hiệu quả. Hai năm trở lại đây, khi có sự tác động của dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn (BDRP Bến Tre), chúng tôi được tập huấn bày bản hơn về cách quản lý nhóm. Đặc biệt là thành viên nhóm được tham gia các lớp tập huấn, các chuyến học tập kinh nghiệm nên đã tạo được sự phấn khởi và có tác động tích cực đến cách làm của bà con nông dân”. Trên cơ sở lấy thành viên nhóm cũ làm nòng cốt, Ban Phát triển xã Long Thới tổ chức thành lập thêm một số nhóm hợp tác, theo hướng dẫn của DBRP. Bên cạnh việc được tham gia các lớp tập huấn khoa học do các kỹ sư, kỹ thuật viên đảm nhiệm, bà con trong các tổ còn tổ chức học kinh nghiệm lẫn nhau. Theo anh Đinh Thanh Tùng – tổ trưởng tổ bonsai, mai vàng (ấp Long Huê), cách làm của tổ là mỗi tháng một lần họp luân phiên tại vườn của thành viên. Kết hợp kiến thức đã được tập huấn với thực tế nên qua những lần sinh hoạt, chất lượng tay nghề, kiến thức về chăm sóc hoa kiểng nâng lên thấy rõ. “Cũng chính vì điều này mà ngoài 22 thành viên của tổ, nhiều bà con khác cũng tham gia sinh hoạt. Chúng tôi đang đề nghị tách và lập thêm nhóm mới” – anh Tùng nói.
Không chỉ học tập kỹ thuật, từ các tổ nhóm này mà nhiều loại cây trồng mới, cách làm ăn mới đã đến được với người dân. Chẳng hạn, măng tây xanh là một giống cây trồng mới, hiệu quả kinh tế cao đang được người dân tại đây cùng nghiên cứu thử nghiệm. Hay như, có những cây giống cũ như cọ, trúc đốm, trúc xanh, vạn thiên thanh, nguyệt quế Thái, ngũ gia bì…, nhưng cách làm mới đã tạo được nguồn thu nhập đáng kể. Đó là bà con không phải trồng loại cây này để bán kiểng như trước mà chuyển sang trồng bán lá. Anh Đặng Văn Thanh - tổ trưởng tổ hoa lá, là người khởi sự nghề này đồng thời cũng là người tổ chức thu mua và cung cấp giống cho người dân trong vùng, cho biết dù chỉ mới hai năm nhưng tổ hoa lá đang hoạt động rất rôm rã. Hầu như nhà nào trong vùng này cũng có kiểng lá. Lợi thế của kiểng lá là cho thu nhập hàng ngày, không tốn nhiều đất cũng không phải bỏ nhiều vốn nên rất thích hợp với người nghèo. Hơn nữa, kiểng lá trồng trong bóng râm nên có thể kết hợp trồng xen. Anh Thanh nhẫm tính: “Chỉ cần 200m2 đất trồng cọ và trúc đốm thì mỗi tháng thu nhập cũng khoảng 1 triệu đồng”.
Tổ hoa lá ban đầu có 18 hộ, nay tăng lên 33 hộ, trong đó có 8 hộ nghèo. Năm 2010 có hộ của anh Nguyễn Văn Liếp Tư thoát nghèo và cất được căn nhà tươm tất. Còn những hộ còn lại, theo anh Nguyễn Văn Lâm, sẽ thoát nghèo trong năm nay. Anh Liếp Tư chia sẻ: “Việc lập tổ nhóm, nông dân chúng tôi có cơ hội tham quan thực tế, được học kinh nghiệm nên đã mạnh dạn đầu tư. Nông dân mà, nếu không được tận mắt thì không tự tin”.
Đầu ra của kiểng lá hiện đang rất ổn định nhưng theo anh Thanh, hiện có nhiều khách hàng đặt với số lượng lớn nhưng anh không dám nhận. Mong muốn của anh là ngày càng có nhiều tổ hoa lá như ấp Long Huê, để người dân được liên kết chặt hơn nữa trong sản xuất và cùng nhau làm giàu.
Sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, manh mún vẫn đang là vấn đề của hầu hết các ngành nghề. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, vẫn có những sản phẩm có chất lượng, tạo được chỗ đứng thương trường, nhưng khi được yêu cầu cung cấp với số lượng lớn thì lại không thể đáp ứng, vì không đủ nguồn cung. Đây cũng chính là vấn đề được bàn nhiều trong quá trình thiết kế Dự án DBRP. Xây dựng tổ, nhóm hợp tác trong sản xuất, kinh doanh được xem là bước khởi đầu quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu này. Hỗ trợ các hoạt động cải thiện năng suất nông nghiệp, nâng cao chất lượng nông sản đáp ứng yêu cầu thị trường, thực hiện hợp đồng bao tiêu và liên kết thị trường… là những hoạt động mà DBRP đã và đang làm nhằm đẩy mạnh sản xuất và tăng thu nhập, giúp người dân nông thôn thoát nghèo bền vững.
DBRP BEN TRE
Đoàn đánh giá chương trình quốc gia của IFAD do ông Basil Kavaisky làm trưởng đoàn vừa có chuyến làm việc tại Hà Tĩnh.

Trong ngày làm việc đầu tiên tại Hà Tĩnh, Đoàn đã được Giám đốc dự án Phan Thành Biển báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện dự án, những thuận lợi, khó khăn và một số đề xuất kiến nghị.
Sáng ngày 09/3/2011 Đoàn đã tiến hành làm việc với các đơn vị đối tác thực hiện của Dự án như: Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Hà Tĩnh, Hội Nông dân, Sở Nông nghiệp và PTNT. Cũng trong chiều ngày 09 đoàn tiếp tục đến làm việc với Sở Kế hoạch & đầu tư, Hội Phụ nữ để tìm hiểu một số vấn đề về dự án và tình hình chung của tỉnh.
Ngày 10/3, đoàn tiến hành đi kiểm tra thực địa tại xã Thạch Xuân, huyện Thạch Hà. Tại đây đoàn đã tham quan một số mô hình sản xuất tập thể có hiệu quả và sau đó có cuộc họp với UBND huyện Thạch Hà. Cũng trong ngày đoàn đến tham quan, thực địa tại xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc và xã Sơn An huyện Hương Sơn.

Nguyễn Đại Tài
0

Ông Trần Hoàn Kim - Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Tư vấn quản lý dự án phát biểu chỉ đạo hội nghị

Sáng ngày 07/01/2011 tại Khách sạn Cửu Long II, Ban Điều phối Dự án IMPP- TV tổ chức hội nghị tổng kết năm 2010, triển khai kế hoạch công tác và ngân sách năm 2011. Đến dự và chỉ đạo hội nghị có Ông Trần Hoàn Kim, Chủ tịch UBND tỉnh - Trưởng Ban tư vấn quản lý Dự án tỉnh, Bà Sơn Thị Ánh Hồng - Phó chủ tịch UBND tỉnh, Ông Huỳnh Văn Tảo - Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư đồng phó Ban Tư vấn quản lý Dự án tỉnh và trên 150 đại biểu là thành viên BTVQLDA, đại diện lãnh đạo Sở ngành tỉnh có liên quan; cán bộ, chuyên gia Dự án IMPP, PARA, Nhóm hỗ trợ Dự án huyện xã, Phòng Tài chính- KH, Kho bạc Nhà nước huyện.

Theo báo cáo, năm 2010 Dự án tiếp tục được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Tư vấn quản lý dự án tỉnh, sự hỗ trợ và phối hợp tích cực từ các Sở ngành tỉnh có liên quan, sự năng động của tập thể cán bộ dự án các cấp, sự hỗ trợ kỹ thuật của Dự án PARA. Dự án IMPP-TV đã hoàn thành kế hoạch công tác, giải ngân trên 82 tỉ đồng, đạt 102%, cao nhất từ năm 2007 đến nay.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị Ông Trần Hoàn Kim, Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những kết quả mà Dự án IMPP đã đạt được trong năm qua, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội tỉnh nhà. Tuy nhiên, năm 2011 là năm chuẩn bị kết thúc Dự án. Trong điều hành Ban Điều phối dự án, Nhóm hỗ trợ dự án huyện, xã cần lưu tâm các bài học kinh nghiệm đã được Dự án rút ra trong năm qua, tạo sự chuyển biến đồng bộ, bước đi nhịp nhàng hơn giữa các Bộ phận/hợp phần, giữa các xã dự án, chú trọng các hoạt động nâng cao năng lực không chỉ đơn thuần về chuyên môn mà phải tạo được ý thức, tầm nhìn, trách nhiệm địa phương trước công việc, thực hiện tốt công tác quyết toán vốn đầu tư; đẩy mạnh hoạt động liên kết thị trường giúp nông dân đạt được hiệu quả cao nhất trong đầu tư; tăng thời gian thực hành trong hoạt động đào tạo nghề; lồng ghép tốt các nguồn lực, nhất là các xã xây dựng nông thôn mới để phát huy hiệu quả đầu tư…

Nhân dịp này, Giám đốc Dự án tặng giấy khen cho 12 tập thể: Nhóm hỗ trợ dự án 5 xã, Phòng Tài chính- KH 04 huyện, Kho bạc Nhà nước 3 huyện và 11 cá nhân là Trưởng nhóm dự án huyện, cán bộ Dự án xã hoàn thành tốt nhiệm vụ và hỗ trợ dự án trong lĩnh vực XDCB và thanh toán vốn đầu tư năm 2010.


Huỳnh Nghĩa Thọ - Phó GĐ Dự án