Pages



Ngày 23/7/2010, UBND tỉnh đã tổ chức hội thảo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh với sự tham dự của đại biểu ban ngành liên quan trong tỉnh, đại diện Hội doanh nghiệp và một số doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, Ban quản lý dự án phát triển kinh doanh với người nghèo, dự ỏn hỗ trợ kỹ thuật Lux Development, dự án Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI), lãnh đạo Phòng Công thương và Thương mại Việt nam(VCCI) và lónh đạo 10 huyện dự án . Ông Nông Văn Páo-Phó chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội thảo. (Đ/c Nông Văn Páo- Phó chủ tịch UBND phát biểu khai mạc)
Hội thảo nhằm phân tích, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất biện pháp nâng cao hơn nữa chỉ số cạnh tranh của tỉnh (PCI). PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, thu hút đầu tư. Thông qua chỉ số giỏ tiờu dựng (CPI) là điều kiện để các doanh nghiệp quan tâm tham khảo, xây dựng chiến lược phát triển đầu tư, kinh doanh.

Tại hội thảo, các đại biểu đã được giới thiệu hợp phần I của dự án án phát triển kinh doanh với người nghèo và dự án VIE-029 trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh; chuyên gia Phòng Thương mại và Công Thương VN và dự án Năng lực cạnh tranh VN giới thiệu về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh(PCI) và tầm quan trọng của PCI đối với công tác quản lý kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cấp tỉnh, đánh giá phân tích chỉ số cạnh tranh của tỉnh trong những năm qua. Là một tỉnh miền núi, liên tục trong nhiều năm qua, tỉnh Cao Bằng đã thực hiện nhiều chính sách cải cách, đổi mới chú trọng vào các tiêu chí quan trọng, tuy nhiên chỉ số CPI của tỉnh chưa có sự thay đổi đáng kể dù là tỉnh có nhiều tiềm năng. Theo đánh giá nguyên nhân do chưa năng động trong việc khai thác nguồn lực và thiếu sự linh hoạt trong điều hành kinh tế, vì vậy nên năm 2009 Cao Bằng tiếp tục là tỉnh đứng vào hàng thấp nhất cả nước về chỉ số cạnh tranh, trong đó đặc biệt là các chỉ số về tính năng động, chi phí thời gian, gia nhập thị trường, tính minh bạch, thiết chế pháp lý và tiếp cận thông tin, đất đai.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các thành phần trong kết quả xếp hạng PCI của tỉnh, các đại biểu đã có nhiều ý kiến phát biểu, thảo luận, tập trung đề xuất giải pháp liên quan đến từng ngành, từng lĩnh vực nhằm phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những vấn đề còn tồn tại.

Đây là hội thảo có tính chất quan trọng, ông Rudi cố vấn trưởng dự ỏn hỗ trợ kỹ thuật LuxDevelopment đánh giá rất cao hội thảo lần này và cam kết sẽ tiến hành phối hợp cùng tỉnh xây dựng kế hoạch hành động và triển khai việc lập kế hoạch trong thời gian sớm nhất.

Ông Nông văn Páo-Phó chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu các ban ngành cần phối hợp xây dựng kế hoạch hành động, tập trung cải cách các lĩnh vực còn yếu kém, khẩn trương triển khai các biện pháp cụ thể trong thời gian tới, kết hợp tăng cường truyền bá thông tin để tạo điều kiện tốt nhất cho việc thu hút đầu tư tại tỉnh, cải thiện chỉ số cạnh tranh xứng với tiềm năng địa phương./.

Đam Ly – Phóng viên đài truyền hình Cao Bằng
Thực tế triển khai Dự án cho thấy, tại các xã dự án sản xuất nông nghiệp đa phần nhỏ lẻ, giá bán và thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, nông dân không liên kết được thị trường để tiêu thụ sản phẩm nên không yên tâm sản xuất. Để tháo gỡ những khó khăn trên, Dự án tập trung hỗ trợ người nghèo tham gia vào các loại thị trường để thoát nghèo bền vững và phát triển kinh tế tập thể.Dự án tập trung phát triển nhóm cộng đồng cùng mục tiêu (CĐCMT)/tổ hợp tác (THT) để giúp nông dân dễ dàng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, tham quan học tập kinh nghiệm, sản xuất với quy mô lớn và kiểm soát được chất lượng để liên kết thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng.
Để phát triển kinh tế tập thể bền vững, ngoài việc người nông dân có nhận thức đúng để tự giác, tự nguyện tham gia, thì vai trò hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể trong việc tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân là một yếu tố cơ bản trong quá trình thực hiện.
Nhận thức được điều này, Dự án đã tổ chức 140 lớp tập huấn cho các nhóm CĐCMT với hơn 3.900 người dự; 80 lớp tập huấn cho cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể xã, ấp với 2.400 người dự, cung cấp kiến thức cơ bản về thị trường, chuỗi giá trị và Nghị định 151/NĐ-CP. Sau tập huấn, các nhóm CĐCMT nhận thức được lợi ích khi tham gia THT, tự nguyện thành lập 62 THT theo Nghị định 151/NĐ-CP đã được UBND xã xác nhận hợp đồng hợp tác, số còn lại đang chuẩn bị thành lập.
Ngoài ra, Dự án còn tổ chức 11 lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho 76 tổ/nhóm với 350 thành viên. Đồng thời, hợp đồng với các cán bộ có kinh nghiệm chăm sóc các THT/nhóm CĐCMT theo hình thức cầm tay chỉ việc giúp tổ/nhóm phát triển bền vững.
Việc tiêu thụ sản phẩm qua hợp đồng giữa THT/nhóm CĐCMT và doanh nghiệp với giá bán cao hơn giá thị trường luôn là niềm mong đợi của các tổ/nhóm. Đến tháng 03/2010, 60 tổ/nhóm (có hơn 1.650 thành viên) liên kết tiêu thụ trên 4.800 tấn sản phẩm gồm: lúa, bắp, đậu phộng, nấm rơm,…với 21 doanh nghiệp/HTX/cơ sở thu mua. Qua đó, giá bán giống cao hơn 30%, giá bán thương phẩm cao từ 2 – 10% so với giá thị trường tại thời điểm. Hiện tại, ngoài việc liên kết đầu ra để tiêu thụ sản phẩm, một số THT/nhóm CĐCMT còn hợp đồng để mua vật tư nông nghiệp đầu vào với giá thấp.
Bài học mà Dự án rút ra trong quá trình hình thành và phát triển THT/nhóm CĐCMT theo hướng bền vững là: lợi ích kinh tế của các thành viên phải được đảm bảo khi tham gia vào tổ/nhóm; các thành viên có cùng sở thích, mục tiêu, tin tưởng lẫn nhau là điều kiện thuận lợi khi thành lập tổ/nhóm; năng lực của tổ trưởng quyết định sự thành công của tổ/nhóm. Sự thống nhất nhận thức về vai trò quan trọng của kinh tế tập thể và xác định trách nhiệm cụ thể của các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế tập thể là đặc biệt quan trọng.
Đoàn đánh giá giữa kỳ của IFAD vào tháng 01/2010 khẳng định Dự án đi đúng hướng và thừa nhận đây là một trong những thành công của Dự án.
Hướng tới, Dự án sẽ phối hợp với Liên minh Hợp tác xã của Cộng hòa Liên bang Đức (DGRV) tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng, xây dựng nội dung nâng cao năng lực và quy trình phát triển kinh tế tập thể bền vững cho tỉnh Trà Vinh■

Bà Trần Thị Viễn – Giám đốc dự án IMPP_TV


0

Ngày 14/07/2010, Đoàn giám sát dự án IFAD Việt Nam đã làm việc với Ban Quản lý dự án IFAD tại Bắc Kạn. Tham dự buổi làm việc có đồng chí Hoàng Ngọc Đường - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, bà Atsuko Toda - Giám đốc chương trình Quốc gia IFAD Việt Nam, lãnh đạo các sở ngành liên quan và đại diện các huyện được triển khai dự án gồm: Ba Bể, Pác Nặm, Na Rỳ.

Các đại biểu dự buổi làm việc đã nghe ông Hoàng Văn Giáp - Giám đốc dự án 3PAD báo cáo năm đầu thực hiện tại Bắc Kạn. Sau một năm triển khai dự án tại Bắc Kạn, dự án 3PAD đã thu được một số kết quả, cụ thể: Dự án đã hoàn thành các điều kiện bắt buộc như: Bổ nhiệm giám đốc, thành lập Ban Quản lý dự án, Ban chỉ đạo dự án, hoàn thành các điều kiện giải ngân. Bên cạnh đó, dự án đã tổ chức 13 cuộc hội thảo; tiến hành đào tạo, tập huấn 64 lớp cho 1.686 học viên; Lập kế hoạch có sự tham gia của người dân cho 11 xã thí điểm về phần xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng số 29 công trình, dự toán số kinh phí ban đầu là 6.955 tỷ đồng. Các công trình này chủ yếu là kênh mương thủy lợi, đường vào khu sản xuất và nước sinh hoạt.

Đại diện Đoàn giám sát dự án IFAD Việt Nam, bà Atsuko Toda bày tỏ vui mừng khi dự án được triển khai tại Bắc Kạn, đánh giá cao công tác chuẩn bị kỹ lưỡng của Ban Quản lý dự án, đồng thời hi vọng sự cộng tác của Đoàn giám sát IFAD Việt Nam có thể trợ giúp cho Ban Quản lý dự án tại Bắc Kạn làm việc toàn diện hơn, hiệu quả hơn.

Đại diện các huyện, các sở ngành có liên quan đã đóng góp ý kiến tại buổi làm việc, đa phần đều đánh giá cao hiệu quả bước đầu của dự án tại Bắc Kạn; trong thời gian tới, các đơn vị sẽ phối hợp với Ban Quản lý dự án để thực hiện tốt theo chương trình kế hoạch dự án.

Phát biểu tại buổi làm việc đồng chí Hoàng Ngọc Đường khẳng định: Dự án là một mẫu hình tốt của việc trồng rừng, phát triển cây con đặc sản, giảm nghèo nhanh bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Dự án sẽ tạo điều kiện chuyển đổi từ cơ chế tự cung tự cấp sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần đổi mới nông thôn, là con đường phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn”.

Thúy Hà - KMO

Đối với huyện vùng cao Đồng Văn (Hà Giang), nguyên nhân dẫn đến sản xuất nông nghiệp phát triển chậm là do một số nguyên nhân như: thiếu đất sản xuất; năng lực canh tác của người dân còn hạn chế; điều kiện kinh tế hạn hẹp ảnh hưởng đến việc đầu tư thâm canh, mua giống cây trồng mới, thiết bị sản xuất tiên tiến…

Để khắc phục một phần khó khăn cho người dân vùng cao, Dự án DPPR huyện Đồng Văn đã triển khai, thực hiện Tiểu hợp phần “Phát triển hệ thống canh tác vùng cao”. Trong 5 năm qua, những hoạt động của Tiểu hợp phần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tế của người dân nên khi triển khai được người dân đón nhận nhiệt tình. Kết quả đạt được có ý nghĩa rất lớn, góp phần nâng cao thu nhập, năng lực sản xuất cho người dân.

Mục tiêu của Tiểu Hợp phần đó là: Cung cấp, hỗ trợ để nâng cao thu nhập, năng lực sản xuất cho người dân ở khu vực thực hiện dự án, mục đích nhằm cải thiện tình hình an ninh lương thực hộ gia đình và đa dạng hoá thu nhâp theo cách bền vững. Phương pháp thực hiện đó là: Lấy hộ gia đình làm đơn vị thực hiện, trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ phụ nữ, hộ dân tộc thiểu số. Dự án cho vay hoặc hỗ trợ một phần kinh phí hay toàn bộ kinh phí để các hộ thực hiện mô hình sản xuất. Trong quá trình thực hiện người dân đóng góp một phần kinh phí và công lao động. Ngoài hoạt động xây dựng mô hình sản xuất, Tiểu hợp phần cũng giành nhiều kinh phí để thực hiện hoạt động tập huấn nâng cao trình độ sản xuất cho người dân, đồng thời hỗ trợ cây giống và dụng cụ sản xuất cho người dân. Tất cả những hoạt động của Tiểu hợp phần đều rất có ý nghĩa đối với đồng bào vùng cao Đồng Văn bởi những hoạt động đó giải quyết cơ bản những khó khăn, hạn chế trong sản xuất ở vùng cao. Do đó, BQL Dự án huyện, xã tích cực triển khai, người dân đồng tình ủng hộ nên Tiểu hợp phần này luôn đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Qua 5 năm triển khai, Dự án đã tổ chức được 52 lớp tập huấn cho gần 2.000 lượt người là cán bộ khuyến nông, thú ý xã, thôn và người dân vùng thực hiện Dự án. Các lớp tập huấn tập trung chính vào việc đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật mới trong sản xuất nông, lầm nghiệp, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản sản phẩm nông sản. Do các lớp tập huấn cũng như nội dung đào tạo được thực hiện theo đề xuất của người dân trong các cuộc xây dựng kế hoạch hàng năm nên các lớp tập huấn, nội dung tập huấn đều được các học viên tham gia đón nhận tích cực, phát huy được hiệu quả, mục đích. Dự án cũng đã triển khai thêm hình thức tuyên truyền kỹ thuật sản xuất đến người dân thông qua các buổi chiếu video tại thôn, bản. Nội dung phim vừa tuyên truyền những kết quả của Dự án trên địa bàn huyện, vừa đưa chi tiết về những mô hình đã được triển khai hiệu quả trên địa bàn...

Đi đôi với việc tập huấn nâng cao năng lực, Dự án cũng đã quan tâm đến việc hỗ trợ cây giống, dụng cụ sản xuất cho người dân. 5 năm qua, Dự án đã cung cấp 4.846 cây lê đường Đài Loan; 2.375 cây đào đỏ Trung Quốc; 1.985 kg giống khoai lang; hỗ trợ trên 200 nghìn giống câu thông, sa mộc, mỡ cho người dân các xã phát triển rừng. Dự án cũng đã hỗ trợ cho người dân dụng cụ sản xuất như: 772 thùng si lô; 217 bình phun thuốc trừ sâu; 648 máy tẽ ngô quay tay và nhiều dụng cụ khác cho hàng nghìn hộ nghèo sử dụng. Các dụng cụ này đều phát huy được hiệu quả đối với cuộc sống lao động sản xuất của người dân bởi nó được hỗ trợ theo nhu cầu thực tế.

Việc xây dựng các mô hình trình diễn trong sản xuất nông nghiệp cũng được Dự án quan tâm. Đến nay, Dự án thực hiện tổng cộng 18 mô hình, trong đó có mô hình thử nghiệm giống đậu tương DT96 và sản xuất giống đậu tương DT84; mô hình hướng dẫn chăm sóc bón phân lần 1, lần 2 đối với ngô lai, ngô địa phương; mô hình trồng cỏ giống mới VA06...Các mô hình sau khi tổng kết đã thu được thành công rất cao, trong đó nhiều mô hình đã có ý nghĩa nhân rộng quy mô sản xuất như mô hình bón phân lần 1, lần 2 cho cây ngô, mô hình trồng cỏ giống mới VA06 tại xã Vần Chải. Với mô hình trồng cỏ VA06, đây là giống cỏ mới, lần đầu tiên được trồng trên địa bàn huyện, mới đầu diện tích chỉ có 0,5 ha. Với ưu thế về chất lượng, năng xuất cao hơn hẳn so với giống cỏ Voi, Goatemala nên sau khi tổng kết mô hình các hộ dân trong xã đã nhân rộng diện tích cỏ VA06 lên vài chục ha, không chỉ ở xã mà người dân trên địa bàn toàn huyện cũng chuyển đổi từ trồng cỏ Voi sang trồng giống cỏ năng suất, chất lượng này. Hiện tại, trên địa bàn huyện có trên 200 ha cỏ VA06.

Hoạt động của Tiểu hợp phần “Phát triển hệ thống canh tác vùng cao” của Dự án DPPR huyện có ý nghĩa rất lớn đối với người dân vùng cao Đồng Văn, nó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo cho dân một cách bền vững.


KHÁNH TOÀN - BÁO HÀ GIANG

Sáng 27.5, UBND tỉnh Hà Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết Đoàn đánh giá hàng năm của IFAD về Dự án DPPR.

Đồng chí Hoàng Đình Châm, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo các dự án ODA của tỉnh dự và chủ trì hội nghị. Cùng dự về phía tỉnh ta có các đồng chí thành viên Ban chỉ đạo Dự án tỉnh; lãnh đạo Ban quản lý Dự án DPPR tỉnh, Ban quản lý Dự án DPPR các huyện gồm Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Xín Mần, Quang Bình. Về phía Đoàn giám sát của IFAD có ông Keith Milligan làm Trưởng đoàn cùng các thành viên trong đoàn.

Hội nghị đã được nghe Đoàn giám sát của IFAD báo cáo công tác giám sát kết quả hoạt động của Dự án DPPR năm 2009 trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Báo cáo khẳng định: Đợt đánh giá này nhằm mục đích xác định thế mạnh và những mặt còn hạn chế, thảo luận cơ hội nâng cao trình độ tác nghiệp của Dự án; tổng kết thành tựu đạt được trong phân cấp quản lý các hoạt động Dự án, củng cố các thành quả đã đạt được thông qua kế hoạch nhân rộng cả trong thời gian còn lại của Dự án; duy trì xóa đói giảm nghèo và an ninh lương thực cho nông dân... Theo đó, qua đánh giá cho thấy, nhìn chung Dự án đã đạt được hơn 70% chỉ số các mục tiêu trong ngân sách kế hoạch hoạt động năm 2009. Tỷ lệ đói nghèo ở 45 xã dự án từ từ thuyên giảm đều trong 3 năm qua. Số các hộ gia đình chuyển từ rất nghèo lên nghèo và số hộ nghèo lên khá đã ngày càng nhiều, đưa tỷ lệ nghèo chung giảm từ 63% xuống còn 35% ở các xã mục tiêu. Có khoảng 15.000 hộ gia đình đã nhận được các dịch vụ do Dự án tài trợ. Những tác động lớn mà Dự án đem lại đó là phát triển được các tổ chức ở cấp cơ sở, đặc biệt là các Nhóm Tín dụng – Tiết kiệm; ứng dụng thành công các mô hình sản xuất chi phí tương đối thấp cho nông dân, thể hiện rõ mức tăng thu nhập và cải thiện an ninh lương thực; cơ sở hạ tầng thôn bản thông qua quyền làm chủ đầu tư được phân cấp cho xã; củng cố năng lực chính quyền cấp cơ sở thông qua sự phân cấp; tăng cường dân chủ cơ sở thông qua phát triển các tổ chức cộng đồng đặc biệt là nhóm giám sát cộng đồng...

Thảo luận tại hội nghị, các đại biểu đều đồng tình cao với báo cáo đánh giá của Đoàn, qua đó phát huy những việc làm được và rút ra được những hạn chế, bài học kinh nghiệm để làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Thay mặt cho Đoàn giám sát, ông Keith Milligan đã lắng nghe các ý kiến thảo luận của các đại biểu, đặc biệt là các huyện nằm trong vùng Dự án và trả lời những vướng mắc trong các hoạt động của Dự án tại địa phương.

Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hoàng Đình Châm đánh giá cao bản báo cáo kết quả giám sát của Đoàn bởi tính thực tế cũng như sát hợp với tình hình ở cơ sở, đồng thời cảm ơn các ý kiến tham gia đóng góp của Đoàn tại hội nghị. Đồng chí đề nghị Đoàn sẽ hoàn chỉnh lại báo cáo lần cuối trong đó cần bổ sung các ý kiến thảo luận tại hội nghị và xem xét các nguyên nhân hạn chế, tồn tại khách quan cũng như chủ quan qua đó rút kinh nghiệm cho hoạt động còn lại của Dự án. Trong thời gian tới, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng đồng tình cao với những khuyến nghị của Đoàn giám sát là sẽ tạo ra lối mở tháo gỡ những khó khăn cho tỉnh trong việc triển khai thực hiện Dự án DPPR trên địa bàn. Yêu cầu các huyện, các xã nằm trong vùng Dự án tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động của Dự án tại cơ sở để làm sao đến cuối Dự án đạt được mục tiêu cao nhất là xóa được đói, giảm được nghèo, cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần cho đồng bào nghèo trên địa bàn tỉnh.


Quỳnh Mai - Báo Hà Giang


Từ 17 đến 27 tháng 5 năm 2010, Đoàn đánh giá giám sát năm 2010 của IFAD đã đến làm việc tại dự án DPPR Hà Giang. Trưởng đoàn là ông Keith Milligan – chuyên gia về thể chế và phân cấp. Mục đích của đoàn giám sát là xem xét tiến độ thực hiện những hành động đã thống nhất kể từ cuộc đánh giá giữa kỳ và đợt giám sát năm 2009; xem xét những tiến bộ và tác động của dự án.... Ngày 17 tháng 5, Đoàn đã được nghe Ban quản lý dự án Tỉnh báo cáo kết quả thực hiện năm 2009, các khó khăn vướng mắc gặp phải trong năm. Sau đó Đoàn đã đi thăm và làm việc tại 5 xã và các thôn bản của huyện Xín Mần và Quang Bình. Ngày 27 tháng 4, đoàn sẽ có buổi họp cuối cùng để báo cáo kết quả đánh giá với UBND Tỉnh, các ngành trong tỉnh và ban quản lý dự án Tỉnh, huyện.


Thu Hằng – KMO Hà Giang
Dự án cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo tỉnh Trà Vinh (IMPP) do Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) tài trợ đã được triển khai ở huyện Tiểu Cần từ cuối năm 2007 đến nay.Qua gần 2 năm thực hiện, dự án này đã góp phần làm thay đổi đáng kể diện mạo và đời sống của người dân ở nông thôn.
Cầu do dự án IMPP đầu tư tại xã Phú Cần

Cùng với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; từ cuối năm 2007 đến nay huyện Tiểu Cần có 4 xã: Tân Hùng, Hùng Hòa, Tân Hòa và Phú Cần được chọn làm nơi triển khai thực hiện các mục tiêu hợp phần tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho người dân thuộc Dự án cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo tỉnh Trà Vinh (IMPP)। Theo kế hoạch thì tổng mức vốn đầu tư cho mỗi xã thuộc dự án thấp nhất là 2,7 tỷ đồng (tùy thuộc vào dân số mỗi xã). Nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào 3 loại hình đó là: xây dựng cơ sở hạ tầng (cầu, đường, điện, thủy lợi, chợ…); đào tạo, tập huấn, tư vấn định hướng thị trường cho người nghèo và cấp vốn cho các nhóm phụ nữ tiết kiệm tín dụng.

Qua thời gian triển khai thực hiện dự án đến nay, 04 xã thuộc vùng hưởng lợi của huyện Tiểu Cần đã triển khai thực hiện được 34 danh mục công trình। Trong đó, có 19 tuyến lộ đal với tổng chiều dài 14.845 mét; ngang 2 mét; 10 cầu bằng bê tông cốt thép dài 191 mét và nạo vét 23 tuyến kênh nội đồng với chiều dài là 22.349. Tổng kinh phí đầu tư cho các danh mục công trình này gần 7,5 tỷ đồng. Hiện nay các địa phương đã nghiệm thu đưa vào sử dụng được 26 danh mục công trình. Riêng 8 danh mục công trình còn lại các địa phương đã và đang tiếp tục xây dựng.

Nhờ có thêm những công trình lộ đal mới nối dài thẳng tấp ven những dòng kênh thủy lợi, kết nối liên hoàn các khu dân cư đã góp phần giúp cho nhiều hộ dân ở vùng quê lóe lên tư duy mới trong cách nghĩ, cách làm kinh tế trên mảnh đất của mình. Khi giao thông thuận tiện nhiều nông dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, đưa nhiều nhóm cây màu xuống chân ruộng; kết hợp với việc đào ao, mở rộng diện tích nuôi cá nước ngọt và làm chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm. Điển hình trong vụ lúa hè thu năm 2009 này Dự án IMPP đã hỗ trợ cho xã Phú Cần thực hiện mô hình sản xuất lúa chất lượng cao. Mô hình được thực hiện thí điểm tại 7/8 ấp của xã Phú Cần. Có 12 nhóm với 315 thành viên tham gia. Tổng diện tích thực hiện mô hình là 258,6 ha. Các bộ giống được chọn để sản xuất trong mô hình là: OM 4218; OM 4900; OM 2395; OM 6073; OMCS 3536 và OMCS 21. Trong quá trình thực hiện các thành viên đều tuân thủ nghiêm các nguyên tắc của qui trình sản xuất lúa chất lượng cao như: khâu làm đất, xử lý cỏ dại; sạ hàng, theo dõi sâu bệnh, ứng dụng chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM; khử lẫn; xử lý hạt lúa trước khi thu hoạch và thực hiện công nghệ sau thu hoạch….. Hiện nay trà lúa của mô hình đang hứa hẹn một vụ mùa thắng lợi về năng suất và chất lượng.

Nhìn chung, nhờ được tiếp sức đầu tư của Dự án cộng với tính cần cù, năng động, nhạy bén trong sản xuất, chăn nuôi mà đời sống của nhiều bà con vùng hưởng lợi từng bước được nâng lên. Kết quả đó được xem là tiền đề để các địa phương thực hiện thành công mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới.
Bài, ảnh: Thanh Quang
Sau hơn hai năm thực hiện dự án IFAD tại Trà Vinh, đã có ít nhất 40% nhóm cộng đồng cùng ngành hàng được ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, 80% số hộ nghèo cải thiện thu nhập, trong đó tối thiểu có 40% hộ nghèo có thu nhập vượt chuẩn nghèo.

Đến nay, Dự án cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo (IMPP-TV) đã được triển khai trên đại bàn 30 xã thuộc 7 huyện của Trà Vinh। Dự án hỗ trợ sản xuất thuộc Chương trình 135 (CT 135) triển khai ở 26 xã thuộc 6 huyện, trong đó có 18 xã của 6 huyện được cả hai dự án IMPP-TV và CT 135 cùng triển khai. Các xã này được Ban điều phối dự án IMPP-TV xây dựng kế hoạch lồng ghép hoạt động giữa hai dự án.

Theo đó, dự án hỗ trợ sản xuất sẽ hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi,… để phát triển và chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo। Dự án IMPP-TV sẽ hỗ trợ biện pháp kỹ thuật sản xuất mới để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm (tập huấn theo phương pháp lý thuyết kết hợp thực hành), gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ…

Trà Vinh phấn đấu 100% người nghèo tham gia nhóm cộng đồng cùng ngành hàng được tập huấn nâng cao năng lực, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, tăng giá bán; 100% người nghèo được hỗ trợ giống, vật tư để tham gia mô hình।

Mạnh Dũng
Báo Người đại biểu
Hơn 7 năm thực thi Dự án Đa dạng hoá thu nhập nông thôn (RIDP) trên địa bàn tỉnh đã giúp nông dân các xã đặc biệt khó khăn nâng cao nhận thức, tăng thu nhập, đời sống phụ nữ và hộ nghèo được cải thiện, góp phần rút ngắn khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch thu nhập giữa các vùng nông thôn. Nhân dịp tổng kết Dự án, phóng viên Báo Tuyên Quang đã có cuộc trao đổi với ông Hà Văn Hoà, Giám đốc Dự án. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi.

P.V: Xin đồng chí cho biết kết quả hơn 7 năm thực hiện dự án RIDP trên đại bàn tỉnh?

Ông Hà Văn Hoà: Dự án Đa dạng hoá thu nhập nông thôn (viết tắt là RIDP) là dự án thứ hai sử dụng nguồn vốn của Quỹ phát triển nông nghiệp Quốc tế (IFAD) trên địa bàn tỉnh. Dự án (DA) được thực thi ở 823 thôn, bản của 66 xã nghèo nhất thuộc 5 huyện của tỉnh từ năm 2002 đến năm 2009. Mục tiêu của DA là cải thiện tình hình kinh tế - xã hội những hộ gia đình nghèo, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số và phụ nữ nghèo.
DA đã triển khai các hoạt động ở cơ sở với sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Tính đến nay, DA đã thành lập 1005 nhóm tiết kiệm vay vốn với 17.866 thành viên là các hộ nghèo, tỷ lệ nữ chiếm 76%, dân tộc thiểu số chiếm 76%. Từ nguồn vốn tiết kiệm 5, 15 tỷ đồng của các thành viên cộng với hơn 36 tỷ đồng của DA đã cho 15.336 thành viên vay quay vòng. DA đã tổ chức 2.689 lớp học tại hiện trường, thu hút 51.086 lượt nông dân tham gia (nữ chiếm 63,7%, người nghèo chiếm 95%); xây dựng 442 mô hình trình diễn, trong đó có 366 mô hình triển khai tại các xã và 76 mô hình tại hai trạm trình diễn Nà Hang và Chiêm Hoá; thực hiện 13 mô hình nghiên cứu ứng dụng làm cơ sở nhân ra sản xuất đại trà như trồng đậu tương đông, các giống lúa thơm đặc sản, bảo tồn nguồn gen của cây lâm nghiệp…
DA đã đào tạo được 937 cán bộ thú y thôn bản ở 66 xã; sau đào tạo, mỗi cán bộ thú y thôn, bản được cấp một bộ dụng cụ và được vay 500 ngàn đồng mua thuốc thú y. Nhằm cải tạo đàn trâu, bò, DA đã cung cấp 312 trâu và 183 bò đực giống tốt cho các hộ gia đình. Đến nay, đã có 4.999 bê và 3.163 nghé được sinh ra, nhiều hơn so với bê nghé ngoài vùng DA. DA đã quy hoạch, cấp 40.895 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 26.153 hộ, với tổng diện tích 50.351,4ha.
DA cũng tổ chức đào tạo, dạy nghề cho các đối tượng là con em đồng bào các dân tộc và hộ nghèo, có 4.955 em đã được cấp học bổng, 3.964 em có việc làm ổn định sau đào tạo. DA đặc biệt chú trọng đến bình đẳng giới thông qua các lớp tập huấn, cung cấp vốn cho nhóm phụ nữ ở thôn bản để chị em lựa chọn và xây dựng 14.989 công trình nhỏ như giếng khơi, bể nước, chuồng lợn, sân phơi và công trình vệ sinh; mua sắm 19.928 công cụ giảm nhẹ sức lao động cho phụ nữ; hỗ trợ sách vở; quần áo cho 58.763 học sinh con các hộ nghèo, đặc biệt là các cháu gái.
DA đã nâng cao năng lực và phân cấp toàn diện cho các xã làm chủ đầu tư cấc công trình cơ sở hạ tầng. Đến cuối năm 2009 đã xây dựng được 1.525 công trình tại các thôn bản, trong đó có 813 km giao thông, 256 lớp học và nhà trẻ, 62 công trình cấp nước sinh hoạt tập chung, 32 trạm y tế, 104 km kênh mương và 112 đầu điểm công trình thuỷ lợi đầu mối.

P.V: Những lợi ích thiết thực mà Dự án RIDP mang lại?

Ông Hà Văn Hoà: Lợi ích to lớn nhất của DA là đã nâng cao năng lực cho cán bộ từ tỉnh đến thôn bản và nông dân nghèo ở địa bàn triển khai DA. Hiệu quả sản xuất đã được nâng lên rõ rệt nhờ các hoạt động đào tạo, tập huấn và chuyển giao KHKT về sản xuất nông, lâm nghiệp cho nông dân theo các phương pháp mới như tập huấn trực tiếp trên hiện trường, xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo nông dân chủ chốt. Cơ cấu giống lúa lai tăng 29%; ngô lai tăng 19%, năng suất lúa tăng trên 8%; năng suất ngô tăng 15%. Sản lượng lương thực ở các xã thực thi DA tăng 4,5%, bình quân lương thực đạt 579 kg/người/năm, tăng 72 kg so với trước khi triển khai DA. Trước đây thu nhập của bà con các xã đặc biệt khó khăn chủ yếu từ trồng trọt (lúa, ngô) nay nguồn thu đã được đa dạng hoá, bao gồm từ chăn nuôi và một số ngành nghề dịch vụ và phi nông nghiệp. Bình quân thu nhập của hộ nghèo đã tăng từ 80.000 lên 199.500 đồng/tháng, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã DA giảm 24%.

Đồng chí Đỗ Văn Chiến, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Dự án RIDP khẳng định:
Dự án RIDP với sự tài trợ nguồn vốn của IFAD, được thực hiện trên địa bàn tỉnh từ năm 2002. Dự án RIDP là một điển hình mẫu mực việc thực hiện cơ chế dân chủ ở cơ sở thông qua nguyên tắc toàn dân tham gia vào tiến trình thực thi DA, kể từ bước người dân xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đến triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá. Dự án cũng đi đầu trong việc phân cấp toàn diện cho cơ sở, đặc biệt là giao cho xã làm chủ đầu tư. Dự án có nhiều đổi mới so với các chương trình, dự án trước đây.
Ban chỉ đạo Dự án tỉnh cùng Chủ tịch IFAD thăm
công trình mương xây kiên cố từ nguồn vốn RIDP

Qua hơn 7 năm triển khai thực hiện, Dự án đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đặt ra, trở thành mô hình điểm với nhiều sáng kiến đổi mới, xây dựng và nâng cao năng lực triển khai Dự án cho cán bộ và nhân dân, góp phần tích cực vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đặc biệt là chương trình xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, mang lại lợi ích thiết thực cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Những kinh nghiệm quý báu và cách làm thành công của dự án đã và đang được tỉnh nhân rộng để áp dụng thực hiện ở các chương trình và dự án khác.
Lợi ích thiết thực và lâu dài của DA là đã xây dựng các mô hình mẫu trong việc áp dụng các sáng kiến và cách tiếp cận mới đề giải quyết vấn đề tam nông, trọng tâm là xoá đói giảm nghèo và đa dạng hoá thu nhập. Thí dụ như mô hình nhóm tiết kiệm vay vốn bao gồm các thành viên là các hộ nghèo nhưng đã tự nguyện gửi tiền tiết kiệm hàng tháng, ngân hàng rải ngân theo nhóm, thủ tục vay đơn giản để người nghèo dễ tiếp cận với nguồn vốn vay; thành viên của nhóm tự quyết định đôí tượng được vay và thời gian vay. Ngoài ra còn có mô hình về tổ chức ở cơ sở như Ban phát triển xã, Ban phat triển thôn, bản, Nhóm quản lý vốn cải thiện đời sống phụ nữ, nhóm vận hành và bảo dưỡng công trình, đội ngũ cán bộ thú y thôn, bản. DA đã trao cho người dân quyền tự quyết định trong phát triển kinh tế của gia đình họ trên cơ sở thế mạnh của địa phương.

P.V: Thưa ông, từ kết quả thành công của dự án, có thể rút ra những kinh nghiệm gì?

Ông Hà Văn Hoà: Điều quyết định thành công của DA chính là chọn đối tượng, lấy người dân làm trung tâm để tổ chức các hoạt động của DA. Phát huy dân chủ cơ sở thông qua phương pháp có sự tham gia của toàn dân, người dân được trực tiếp tham gia từ khâu xác định nhu cầu để xây dựng kế haọch, tổ chức thực hiện, giám sát và quản lý, sử dụng, vận hành. Việc mạnh dạn phân cấp toàn diện cho cơ sở cũng là bài học khuyến khích sự tham gia và tăng cường khả năng của người dân vào quá trình phát triển cộng đồng, nâng cao năng lực cán bộ ở cơ sở.
Dự án RIDP đã đạt được những thành công, mang lại hiệu quả tốt đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ; đồng thời giúp nâng cao năng lực cho dội ngũ cán bộ thực hiện DA, đặc biệt là cán bộ ở cấp xã, thôn, bản. Những phương pháp đổi mới của DA cần được nhân rộng ra các xã khác và áp dụng vào các chương trình, dự án trong tỉnh. Việc đảm bảo tính bền vững của các hoạt động và đầu tư của DA cần được chú trọng. tiếp tục duy trì và áp dụng các mô hình thành công của DA như các nhóm tiết kiệm vay vốn, lớp học tại hiện trường, mô hình trình diễn, đào tạo thú y thôn bản…Sau khi DA kết thúc, vấn đề tiếp tục quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng các công tình và trang thiết bị do DA đầu tư cũng cần được đặc biệt quan tâm. Các cấp, các ngành chủ động và tích cực chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xây dựng và khởi động dự án mới do IFAD tài trợ.

P.V: Xin cảm ơn ông.

Duy Hùng – Báo Tuyên Quang
Sáng ngày 22-4, UBND tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức hội nghị tổng kết Dự án đa dạng hóa thu nhập nông thôn (RIDP). Dự hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Sáng Vang, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương; Đỗ Văn Chiến, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Dự án RIDP; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo các ban, ngành của tỉnh; Ban phối hợp thực thi Dự án RIDP; chủ tịch UBND và Quản đốc Ban quản lý Dự án RIDP các huyện và đại diện các thành viên 66 xã thực thi dự án.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh dự hội nghị tổng kết
Dự án Đa dạng hoá thu nhập nông thôn

Sau 8 năm thực hiện, Dự án RIDP đã được triển khai ở 823 thôn, bản của 66 xã nghèo thuộc 5 huyện của tỉnh. Dự án góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ từ tỉnh đến thôn bản và nông dân nghèo ở địa bàn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 17%, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm 14%, tỷ lệ trẻtrong độ tuổi vào học mẫu giáo tăng 20%. Hiệu quả sản xuất đã nâng lên rõ rệt nhờ đào tạo, tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật; cơ cấu giống lúa lai tăng 29%, năng suất lúa tăng trên 8%; ngô lai tăng 19%, năng suất ngô tăng 15%. Sản lượng lương thực ở các xã thực thi dự án tăng 4,5%, bình quân lương thực đạt 579 kg/người/năm, tăng 72 kg so với trước khi triển khai dự án. Trước đây thu nhập của bà con các xã đặc biệt khó khăn chủ yếu từ trồng trọt (lúa, ngô) nay đã được đa dạng hoá, bao gồm từ chăn nuôi và một số ngành nghề dịch vụ và phi nông nghiệp. Công tác đào tạo hệ thống thú y thôn bản đã góp phần phòng trừ dịch bệnh và nâng cao tỷ lệ tiêm phòng cho gia súc hàng năm. Phụ nữ được phát huy vai trò trong gia đình, cộng đồng và thêm cơ hội nâng cao kiến thức.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Sáng Vang trao Cờ thi đua xuất sắc
năm 2009 cho Ban phối hợp thực thi Dự án RIDP.


Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Sáng Vang nhấn mạnh, trong thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh những năm qua có sự đóng góp của tổ chức IFAD thông qua dự án đa dạng hoá thu nhập nông thôn. Quá trình thực hiện Dự án trên địa bàn, các cấp, ngành đã quản lý tốt nguồn vốn tài trợ, sử dụng đúng mục đích, đặc biệt là thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Những bài học rút ra từ kết quả thực thi dự án là rất quý. Công tác tư tưởng, công tác dân vận cũng cần nghiên cứu và học tập cách làm của dự án. Với các ngành kinh tế, việc đơn giản các thủ tục vay vốn của nhóm tiết kiệm mặc dù lãi suất cao hơn ngân hàng thương mại, nhưng dư nợ quá hạn của dự án thấp hơn rất nhiều so với các ngân hàng. Những gương điển hình thoát nghèo từ tham gia dự án cần được phổ biến nhân rộng. Kết quả đạt được của dự án là sự nỗ lực của các hộ dân trong vùng hưởng lợi, sự tận tâm trong công việc của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo trên địa bàn.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng đã chỉ ra một số tồn tại trong quá trình thực thi dự án đó là kinh doanh nhỏ, giao đất lâm nghiệp chưa đạt mục tiêu đề ra. Khắc phục tồn tại này, đồng chí đề nghị các cấp, ngành cần phát huy và nhân rộng những thành quả đã đạt được từ hợp phần an ninh lương thực; hợp phần giới và vốn cải thiện đời sống phụ nữ; đào tạo nhân lực, quản lý nguồn vốn, sử dụng các trang thiết bị của dự án. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 18 của tỉnh về chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, các cấp các ngành gắn kết quả DA để tổ chức thực hiện đảm bảo tính bền vững và hiệu quả.

Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Văn Chiến trao Bằng khen cho
các cá nhân tham gia dự án RIDP


Theo đề nghị của Khối nông lâm nghiệp UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc năm 2009 cho Ban phối hợp thực thi Dự án RIDP; tặng bằng khen cho 15 tập thể và 36 cá nhân tham gia dự án.

Duy Hùng – Báo Tuyên Quang

Từ sự hỗ trợ của Dự án Đa dạng hoá thu nhập nông thôn, chị Hoàng Thị Ngọc, thôn 4 Minh Quang xã Minh Hương (Hàm Yên), đầu tư xây dựng lò ấp trứng vịt. Được tập huấn và hướng dẫn cách thức chọn trứng, vận hành máy ấp trứng có công suất 2.000 quả/lần ấp, tháng 9/2009 chị Ngọc thực hiện mẻ ấp trứng đầu tiên, tỷ lệ trứng nở đạt trên 80%.
Theo quy trình ấp luôn phiên, mỗi ngày lò ấp trứng của gia đình chị cung cấp cho bà con trong xã gần 200 con vịt giống. Chị bán 10.000đồng/con vịt giống 3 ngàỳ tuổi; các hộ mang trứng đến thuê ấp thì giá 2.000đ/con. Do nguồn trứng mua về lò ấp đều là trứng vịt gốc của các gia đình tại xã Minh Hương, cộng với kinh nghiệm chọn trứng, soi trứng của chị Ngọc khi đưa vào lò ấp, nên con giống đều đảm bảo chất lượng.

Chị Ngọc bên đàn vịt mới nở


Chị Ngọc cho biết, gia đình chị mới đầu tư 10 triệu đồng mua tiếp lò ấp trứng thứ 2 để làm dịch vụ phục vụ bà con chăn nuôi gia cầm. Theo các hộ chăn nuôi vịt trên địa bàn xã nhu cầu tiêu dùng vịt Minh Hương trên thị trường khá lớn, nhưng cách thức chăn nuôi hiện nay còn nhỏ lẻ nên không có đủ vịt để bán. Gia đình anh Nguyễn Văn Sử, thôn 12 mới mua 100 con vịt giống, sau 5 tháng nuôi mỗi con đạt trọng lượng từ 2,2 – 2,5kg, xuất bán thu về hơn 10 triệu đồng.
Sự hỗ trợ của Dự án RIDP đã giúp nông dân xã Minh Hương thay đổi cách nghĩ, cách làm. Trước đây, bà con trong xã chăn nuôi vịt để tiêu dùng, nay các hộ chuyển sang chăn nuôi hàng hoá nên nhu cầu con giống tăng. Việc đầu tư xây lò ấp trứng của chị Ngọc đã mở hướng khai thác tiềm năng, phát triển chăn nuôi vịt tạo sản phẩm cung câp cho thị trường.

Đàn vịt Minh Hương đang lớn dần


Vịt Minh Hương có đặc điểm màu lông hoa văn sặc sỡ, cổ ngắn, chân ngắn, da vàng, xương nhỏ thịt thơm, ngon đã tạo được thương hiệu trên thị trường. Với giá bán bình quân 130.000đ/con (65.000đ/kg), người dân có thể ổn định thu nhập từ chăn nuôi vịt. Điều quan trọng và ý nghĩa với người dân trong xã là từ khi có lò ấp trứng tại thôn, chủ lò ấp đã thực hiện việc mua gom trứng hoặc các hộ mang trứng đến thuê ấp; qua đó bảo tồn được nguồn gen quý hiếm của giống vịt Minh Hương.

Hà Minh – Báo Tuyên Quang

Nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ, ngày 07 – 11/4/2010 Dự án hỗ trợ kỹ thuật Lux Development phối hợp với DBRP Cao Bằng triển khai tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ tại Cát Bà (Hải Phòng). Với sự hỗ trợ của giảng viên đến từ tổ chức đào tạo tư vấn Management For Development Foundation (MDF). Tham gia lớp tập huấn có 26 học viên là lãnh đạo và cán bộ các sở ban ngành liên quan như: Sở Nông Nghiệp, Sở Công Thương, Ngân Hàng Nông Nghiệp, Hội Nông Dân, Hội Phụ Nữ và cán bộ dự án.


Trong thời gian tập huấn học viên được tiếp thu về phương pháp quản lý dựa trên kết quả, các chỉ số của khung logic…sau những bài giảng là những bài tập thực hành theo nhóm nhằm nâng cao năng lực làm việc nhóm cho học viên.

Đặc biệt trong đợt tập huấn này có sự tham gia của ông Alaiz chuyên gia nước ngoài về M&E của dự án IFAD tại Lào đến chia sẻ về những vấn đề liên quan tới M&E (Thuận lợi, khó khăn… so sánh hệ thống M&E của DBRP Cao Bằng).


Kết quả sau khi kết thúc lớp tập huấn đa số học viên nắm rõ được về phương pháp quản lý dựa trên kết quả, hiểu rõ về các chỉ số của khung logic, được giảng viên trao chứng chỉ hoàn thành khóa học.

Phương Tiến Mạnh – KMO Cao Bằng
Thời gian gần đây, trên địa bàn xã Ninh Lai (Sơn Dương, Tuyên Quang) xuất hiện nhiều gương làm kinh tế giỏi thoát nghèo là thành viên nhóm tiết kiệm vay vốn (TK-VV) dự án RIDP, điển hình là Ông Lý Hải Sơn thôn Ninh Hoà 1 xã Ninh Lai.
Năm 2006, khi Dự án RIDP bắt đầu triển khai, thôn Ninh Hoà 1 thành lập 1 nhóm TK-VV. Ông Lý Hải Sơn lúc đó là hộ nghèo trong thôn, một mình ông nuôi người vợ bị mắc bệnh tâm thần cùng 6 đứa con nhỏ, trong lúc đó kinh tế rất khó khăn, nuôi con đi học ông phải vay lãi tư nhân, vay năm trước trả năm sau cuộc sống rất vất vả.
Khi Dự án RIDP triển khai tại xã, ông tham gia nhóm TK-VV và giữ vai trò phó nhóm. Bắt đầu từ đây ông Sơn tham gia sinh hoạt nhóm và gửi tiền tiết kiệm, được Dự án tập huấn về phương pháp quản lý, sử dụng đồng vốn. Các chương trình tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật trên địa bàn ông tích cực tham gia học hỏi và áp dụng trong phát triển sản xuất của gia đình, ông nói: “Văn hoá tôi học hết lớp 10/10 nhưng về khoa học kỹ thuật thì không được học nên mình làm không hiệu quả”.
Sau khi được tập huấn ông bắt đầu làm kinh tế gia đình, đầu tiên ông được vay 230 ngàn đồng trong vòng 6 tháng từ nguồn Dự án RIDP cho vay qua nhóm TKVV, ông đầu tư nuôi gà sau 6 tháng ông đã gây được 10 con gà mái và hiện nay đàn gà của ông có 40 mái và 3 con trống, riêng năm 2009 ông thu được 15 triệu từ bán gà. Kinh nghiệm nuôi gà của ông Sơn được các hộ lân cận làm theo như gia đình chị Tuất, chị Hảo và cũng rất thành công.
Đàn gà mới nở nhà ông Sơn

Ông Sơn cho biết: “Hiện nay gia đình tôi có 2 con trâu, 2 con bò mẹ hiện giờ đã sinh thêm 2 bê con, tôi cũng được Dự án hỗ trợ giống và kỹ thuật trồng 1ha mây đang ở năm thứ 3, nói ra thì không ai bảo nghèo nhưng thực sự trước đây nghèo lắm. Cũng là nhờ Dự án RIDP mới được tiếp cận nguồn vốn và các kiến thức khoa học kỹ thuật áp dụng vào phát triển kinh tế. Cây ngô trước đây tôi cứ làm là làm thôi, sau khi đi học về biết cách làm đúng, cây ngô tôi cũng làm cây lúa tôi cũng làm mà ngô ra ngô, lúa ra lúa”.
Để phát triển kinh tế gia đình, ông Sơn còn tự tìm tòi học hỏi cách trồng rau xanh để bán ra thị trường, ông nghiên cứu và thấy trồng Xu xu đem lại giá trị kinh tế cao ông tâm sự: “Từ năm 2008 tôi bắt đầu trồng Xu xu và nếu 1 sào Xu xu được chăm bón tốt đem lại thu nhập từ 6 đến 7 triệu đồng, cùng là rau nhưng Xu hào, Bắp cải cũng chỉ 3 ngàn đồng 1 kg trong khi đó Xu xu nếu đầu vụ tôi bán được 20 ngàn 1 kg”. Ông còn đầu tư mua một dàn gieo xạ kéo tay để làm cho gia đình và làm thuê cho các hộ có nhu cầu.
Trong nhóm TK-VV của ông Sơn hiện nay cũng có nhiều chị nuôi gà, trồng rau theo cách ông phổ biến kinh nghiệm, từng bước làm kinh tế vươn lên thoát nghèo.
Lương Ngọc Hường – KMO Tuyên Quang
Đến thăm Hợp tác xã thủ công nghiệp xã Trung Hà, huyện Chiêm Hoá chúng tôi được thấy những sản phẩm mây tre đan rất đẹp mắt được làm bởi bàn tay khéo léo của chị em phụ nữ dân tộc nơi đây.

Hình thành nghề mới tại địa phương

Tiền thân của Hợp tác xã là một nhóm sản xuất mây tre đan, năm 2005 được Dự án RIDP hỗ trợ kinh phí mở lớp đào tạo nghề. Nhóm có 32 thành viên với 100% là nữ và là người dân tộc thiểu số, sau 1 tháng được các nghệ nhân làng nghề mây giang đan huyện Chương Mỹ, Hà Nội trực tiếp đào tạo hướng dẫn kỹ thuật, các học viên đã sử dụng thành thạo các công cụ máy móc. Sản phẩm đầu tay sau lớp đào tạo là 2.983 sản phẩm các loại theo 11 mẫu, đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo về mỹ thuật và đã đem lại doanh thu trên 7 triệu đồng cho nhóm.

Chị em đang sản xuất sản phẩm mây tre đan xuất khẩu

Chị Quan Thị Thức, trưởng nhóm cho biết: “Thấy mô hình nhóm chúng tôi hoạt động có hiệu quả và triển vọng, năm 2006 xã đã nâng cấp nhóm thành Hợp tác xã thủ công nghiệp với 160 lao động và không ngừng đào tạo nâng cao tay nghề cho xã viên. Hợp tác xã cũng nhận được sự hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật của một số đơn vị như Chi cục HTX, Sở công thương, Hội nông dân vì vậy tay nghề của chị em được nâng cao, sản phẩm sản xuất ra ngày càng đa dạng kiểu dáng phong phú đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng”.

Hiệu quả từ công tác quản lý năng động sáng tạo

Qua 4 năm hoạt động, mô hình nhóm sản xuất mây tre đan nay là HTX thủ công nghiệp Trung Hà đã từng bước phát triển, sản xuất hàng ngàn sản phẩm xuất khẩu với tổng doanh thu trên 100 triệu đồng mỗi năm.
Không chỉ dừng lại ở việc tổ chức sản xuất, HTX còn tổ chức mở lớp dạy nghề tại xã thu hút được 140 học viên tham gia. Ban quản lý HTX mạnh dạn tìm kiếm thị trường để mở rộng làng nghề, kết quả cho đến nay đã mở được 3 lớp dạy nghề trong huyện cho các xã bạn với 105 học viên, 7 lớp tại huyện Na Hang với 145 người, tổng doanh thu từ đào tạo nghề đạt trên 40 triệu đồng.

Chuyên gia IFAD thăm nhóm sản xuất mây tre đan


Chị Quan Thị Thức giờ là chủ nhiệm Hợp tác xã chia sẻ: “Hiện nay hoạt động của HTX chúng tôi tương đối ổn định, thu nhập bình quân đầu người đạt từ 500.000đ-700.000đ/tháng. Để có được làng nghề thủ công mây tre đan như ngày hôm nay, chị em chúng tôi rất biết ơn Dự án RIDP, đây thực sự là hướng đi hợp lý tận dụng được ngày công nhàn rỗi của chị em và đem lại thu nhập đáng kể cho hộ gia đình đặc biệt là những hộ nghèo”.
Được hỏi về bí quyết thành công chị chỉ cười “ Để duy trì được bền vững hoạt động của nhóm, đội ngũ ban quản lý chúng tôi đặc biệt là thời gian đầu phải có niềm đam mê, hăng say, nhiệt tình kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh, minh bạch công khai tài chính và điều quan trọng phải công bằng trong phân phối thu nhập. Hiện nay, Ban quản lý HTX chúng tôi cũng phải chủ động tìm kiếm đơn hàng để duy trì hoạt động đem lại thu nhập cho xã viên”.

Lương Ngọc Hường – KMO Tuyên Quang

0
Linking job information activities between the rural youth and enterprises conducted by Developing Business with the Rural Poor project in Ben Tre Province (DBRP Ben Tre) create job opportunities for rural poor and meet labor demands of enterprises engaging in production and trading in Ben Tre province

Since early this year, DBRP Ben Tre has signed Minutes Of Understanding (MOU) with 08 enterprises inside and outside the provincial industrial zone to link job information between the rural youth and enterprises through linking job information workshops.

The linking job information activities between the rural poor and enterprises has helped connect the labor demands of enterprises to job needs of the rural poor. Before DBRP Ben Tre implemented the linking job information activities between the rural youth and enterprises, the rural poor did not have many opportunities to approach job intelligence, neither directly discuss with enterprises. They could only access to job information through the mass media and the provincial jobcenter. Since the MOU was signed with enterprises, the Project Management Unit of DBRP Ben Tre has held 05 linking job information workshops at Ba Tri , Cho Lach, Mo Cay Nam and Mo Cay Bac Districts attended by more than 500 labors at working-age. The workshops provided participants with opportunities to directly dialogue with enterprises to have better understanding about interests and obligations of employees, business policies of enterprises and businesses, which helped them find suitable jobs and have stable incomes, therefore, contributing to the poverty alleviation.

DBRP Ben Tre initially found these pilot activities effective. “The goal of these linking job information activities between the rural youth and enterprises is to create conditions for the rural poor to find good jobs to improve their living and simultaneously support enterprises by ensuring labor resources for their stable production. It then certainly contributes to the poverty alleviation”, said मर. Nguyen Truc Son - Project Director of DBRP Ben Tre. Currently, the labor demands of about 3,000 enterprises engaging in production in Ben Tre province are pretty high. DBRP Ben Tre will, therefore, continue to carry out more linking job information activities in 2010.

Hong Hanh
Trong năm 2009 dự án 3PAD đã thành lập được 30 Câu lạc bộ Sinh kế và quyền phụ nữ với 1.190 thành viên tham gia tại 30 thôn của 30 xã (trong đó huyện Na Rì: 12 xã, Ba Bể: 12 xã, Pác Nặm: 6 xã). Tại 30 Câu lạc bộ đã xây dựng quy chế hoạt động và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ định kỳ hàng tháng. Qua sinh hoạt các thành viên Câu lạc bộ đã được cung cấp kiến thức về quyền, chính sách, pháp luật liên quan đến phụ nữ (luật Bình đẳng giới, luật phòng chống bạo lực gia đình…). Tuy mô hình Câu lạc bộ mới được thành lập và hoạt động trong thời gian ngắn nhưng bước đầu đã mang lại hiệu quả: Nhiều phụ nữ được tham gia vào quá trình ra quyết định của cộng đồng; thu hút thêm 65 thành viên tham gia (so với lúc thành lập); Bước đầu tạo ra sự đoàn kết cao hơn giữa các thành viên Câu lạc bộ, sự gắn kết giữa các Câu lạc bộ với tổ chức Hội và chính quyền địa phương giúp phụ nữ nghèo biết làm ăn phát triển kinh tế.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các Câu lạc bộ có địa điểm sinh hoạt. Ban thực hiện dự án tỉnh đã chỉ đạo Hội phụ nữ 3 huyện (Na Rì, Ba Bể, Pác Nặm), phối hợp với lãnh đạo chính quyền 30 xã và tiến hành khảo sát thực trạng nhà họp thôn tại 30 thôn trên địa bàn 30 xã thực hiện dự án trong năm 2009 để tiến hành sửa chữa, nâng cấp và làm mới để làm điểm sinh hoạt Câu lạc bộ “Sinh kế và quyền phụ nữ” với số tiền 25 triệu đồng/nhà sinh hoạt câu lạc bộ. Ban QLDA 3PAD tỉnh đã chỉ đạo Ban thực hiện dự án Hội phụ nữ huyện, Hội phụ nữ và Ban chủ nhiệm câu lạc bộ 30 xã phối hợp với chính quyền địa phương vận động người dân trong thôn đóng góp tiền, công lao động để vận chuyển nguyên vật liệu để tiến hành thi công hoàn thiện các công trình. Dự kiến trong năm 2010, Ban QLDA 3PAD và Hội phụ nữ tiếp tục phối hợp nhân rộng thêm khoảng 60 mô hình Câu lạc bộ “Sinh kế và quyền phụ nữ” tại các huyện trong vùng dự án.

Ban thực hiện dự án tỉnh Hội cũng đã phối hợp với Ban QLDA 3PAD tỉnh, Cố vấn giới, đại diện Sở Nông nghiệp và Hội phụ nữ 03 huyện thống nhất xây dựng bộ tài liệu về Sinh kế, giới và quyền phụ nữ, cụ thể: Về sinh kế ( xây dựng bộ tài liệu về: cây keo, mỡ, đỗ tương, rau sạch, lúa lai, lúa thuần, ngô, Chăn nuôi trâu bò, lợn, gà thả vườn…)., Về giới và quyền (luật bình đẳng giới, luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật đất đai, luật hôn nhân gia đình, luật khiếu nại tố cáo, luật môi trường, luật bảo vệ rừng…). Bộ tài liệu sẽ được tiếp tục hoàn thiện và chuyển tới các Câu lạc bộ Sinh kế và quyền phụ nữ sử dụng cho các buổi sinh hoạt định kỳ nhằm cung cấp các kiến thức về sinh kế, giới và quyền cho các thành viên Câu lạc bộ.

Dự án 3PAD với mục tiêu nhằm đạt được giảm nghèo một cách bền vững và công bằng, cải thiện sinh kế cho người nghèo nông thôn tỉnh Bắc Kạn. Với những hoạt động cụ thể như trên hy vọng mô hình Câu lạc bộ Sinh kế và quyền phụ nữ sẽ là địa điểm sinh hoạt, là nơi giúp đỡ các thành viên tiếp cận, trao đổi thông tin về khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, trồng trọt để phát triển kinh tế, các kiến thức về pháp luật để thực hiện các quyền của phụ nữ, từng bước vận dụng vào quá trình trồng trọt, chăn nuôi của từng hộ gia đình để nâng cao năng xuất, tăng thu nhập cho gia đình. Đồng thời thực hiện tôt quyền và nghĩa vụ công dân tại cộng đồng.
Thúy Hà
Ban QLDA 3PAD tỉnh Bắc Kạn