Để khắc phục một phần khó khăn cho người dân vùng cao, Dự án DPPR huyện Đồng Văn đã triển khai, thực hiện Tiểu hợp phần “Phát triển hệ thống canh tác vùng cao”. Trong 5 năm qua, những hoạt động của Tiểu hợp phần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tế của người dân nên khi triển khai được người dân đón nhận nhiệt tình. Kết quả đạt được có ý nghĩa rất lớn, góp phần nâng cao thu nhập, năng lực sản xuất cho người dân.
Mục tiêu của Tiểu Hợp phần đó là: Cung cấp, hỗ trợ để nâng cao thu nhập, năng lực sản xuất cho người dân ở khu vực thực hiện dự án, mục đích nhằm cải thiện tình hình an ninh lương thực hộ gia đình và đa dạng hoá thu nhâp theo cách bền vững. Phương pháp thực hiện đó là: Lấy hộ gia đình làm đơn vị thực hiện, trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ phụ nữ, hộ dân tộc thiểu số. Dự án cho vay hoặc hỗ trợ một phần kinh phí hay toàn bộ kinh phí để các hộ thực hiện mô hình sản xuất. Trong quá trình thực hiện người dân đóng góp một phần kinh phí và công lao động. Ngoài hoạt động xây dựng mô hình sản xuất, Tiểu hợp phần cũng giành nhiều kinh phí để thực hiện hoạt động tập huấn nâng cao trình độ sản xuất cho người dân, đồng thời hỗ trợ cây giống và dụng cụ sản xuất cho người dân. Tất cả những hoạt động của Tiểu hợp phần đều rất có ý nghĩa đối với đồng bào vùng cao Đồng Văn bởi những hoạt động đó giải quyết cơ bản những khó khăn, hạn chế trong sản xuất ở vùng cao. Do đó, BQL Dự án huyện, xã tích cực triển khai, người dân đồng tình ủng hộ nên Tiểu hợp phần này luôn đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra.
Qua 5 năm triển khai, Dự án đã tổ chức được 52 lớp tập huấn cho gần 2.000 lượt người là cán bộ khuyến nông, thú ý xã, thôn và người dân vùng thực hiện Dự án. Các lớp tập huấn tập trung chính vào việc đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật mới trong sản xuất nông, lầm nghiệp, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản sản phẩm nông sản. Do các lớp tập huấn cũng như nội dung đào tạo được thực hiện theo đề xuất của người dân trong các cuộc xây dựng kế hoạch hàng năm nên các lớp tập huấn, nội dung tập huấn đều được các học viên tham gia đón nhận tích cực, phát huy được hiệu quả, mục đích. Dự án cũng đã triển khai thêm hình thức tuyên truyền kỹ thuật sản xuất đến người dân thông qua các buổi chiếu video tại thôn, bản. Nội dung phim vừa tuyên truyền những kết quả của Dự án trên địa bàn huyện, vừa đưa chi tiết về những mô hình đã được triển khai hiệu quả trên địa bàn...
Đi đôi với việc tập huấn nâng cao năng lực, Dự án cũng đã quan tâm đến việc hỗ trợ cây giống, dụng cụ sản xuất cho người dân. 5 năm qua, Dự án đã cung cấp 4.846 cây lê đường Đài Loan; 2.375 cây đào đỏ Trung Quốc; 1.985 kg giống khoai lang; hỗ trợ trên 200 nghìn giống câu thông, sa mộc, mỡ cho người dân các xã phát triển rừng. Dự án cũng đã hỗ trợ cho người dân dụng cụ sản xuất như: 772 thùng si lô; 217 bình phun thuốc trừ sâu; 648 máy tẽ ngô quay tay và nhiều dụng cụ khác cho hàng nghìn hộ nghèo sử dụng. Các dụng cụ này đều phát huy được hiệu quả đối với cuộc sống lao động sản xuất của người dân bởi nó được hỗ trợ theo nhu cầu thực tế.
Việc xây dựng các mô hình trình diễn trong sản xuất nông nghiệp cũng được Dự án quan tâm. Đến nay, Dự án thực hiện tổng cộng 18 mô hình, trong đó có mô hình thử nghiệm giống đậu tương DT96 và sản xuất giống đậu tương DT84; mô hình hướng dẫn chăm sóc bón phân lần 1, lần 2 đối với ngô lai, ngô địa phương; mô hình trồng cỏ giống mới VA06...Các mô hình sau khi tổng kết đã thu được thành công rất cao, trong đó nhiều mô hình đã có ý nghĩa nhân rộng quy mô sản xuất như mô hình bón phân lần 1, lần 2 cho cây ngô, mô hình trồng cỏ giống mới VA06 tại xã Vần Chải. Với mô hình trồng cỏ VA06, đây là giống cỏ mới, lần đầu tiên được trồng trên địa bàn huyện, mới đầu diện tích chỉ có 0,5 ha. Với ưu thế về chất lượng, năng xuất cao hơn hẳn so với giống cỏ Voi, Goatemala nên sau khi tổng kết mô hình các hộ dân trong xã đã nhân rộng diện tích cỏ VA06 lên vài chục ha, không chỉ ở xã mà người dân trên địa bàn toàn huyện cũng chuyển đổi từ trồng cỏ Voi sang trồng giống cỏ năng suất, chất lượng này. Hiện tại, trên địa bàn huyện có trên 200 ha cỏ VA06.
Hoạt động của Tiểu hợp phần “Phát triển hệ thống canh tác vùng cao” của Dự án DPPR huyện có ý nghĩa rất lớn đối với người dân vùng cao Đồng Văn, nó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo cho dân một cách bền vững.
KHÁNH TOÀN - BÁO HÀ GIANG

Sáng 27.5, UBND tỉnh Hà Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết Đoàn đánh giá hàng năm của IFAD về Dự án DPPR.
Đồng chí Hoàng Đình Châm, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo các dự án ODA của tỉnh dự và chủ trì hội nghị. Cùng dự về phía tỉnh ta có các đồng chí thành viên Ban chỉ đạo Dự án tỉnh; lãnh đạo Ban quản lý Dự án DPPR tỉnh, Ban quản lý Dự án DPPR các huyện gồm Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Xín Mần, Quang Bình. Về phía Đoàn giám sát của IFAD có ông Keith Milligan làm Trưởng đoàn cùng các thành viên trong đoàn.
Hội nghị đã được nghe Đoàn giám sát của IFAD báo cáo công tác giám sát kết quả hoạt động của Dự án DPPR năm 2009 trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Báo cáo khẳng định: Đợt đánh giá này nhằm mục đích xác định thế mạnh và những mặt còn hạn chế, thảo luận cơ hội nâng cao trình độ tác nghiệp của Dự án; tổng kết thành tựu đạt được trong phân cấp quản lý các hoạt động Dự án, củng cố các thành quả đã đạt được thông qua kế hoạch nhân rộng cả trong thời gian còn lại của Dự án; duy trì xóa đói giảm nghèo và an ninh lương thực cho nông dân... Theo đó, qua đánh giá cho thấy, nhìn chung Dự án đã đạt được hơn 70% chỉ số các mục tiêu trong ngân sách kế hoạch hoạt động năm 2009. Tỷ lệ đói nghèo ở 45 xã dự án từ từ thuyên giảm đều trong 3 năm qua. Số các hộ gia đình chuyển từ rất nghèo lên nghèo và số hộ nghèo lên khá đã ngày càng nhiều, đưa tỷ lệ nghèo chung giảm từ 63% xuống còn 35% ở các xã mục tiêu. Có khoảng 15.000 hộ gia đình đã nhận được các dịch vụ do Dự án tài trợ. Những tác động lớn mà Dự án đem lại đó là phát triển được các tổ chức ở cấp cơ sở, đặc biệt là các Nhóm Tín dụng – Tiết kiệm; ứng dụng thành công các mô hình sản xuất chi phí tương đối thấp cho nông dân, thể hiện rõ mức tăng thu nhập và cải thiện an ninh lương thực; cơ sở hạ tầng thôn bản thông qua quyền làm chủ đầu tư được phân cấp cho xã; củng cố năng lực chính quyền cấp cơ sở thông qua sự phân cấp; tăng cường dân chủ cơ sở thông qua phát triển các tổ chức cộng đồng đặc biệt là nhóm giám sát cộng đồng...
Thảo luận tại hội nghị, các đại biểu đều đồng tình cao với báo cáo đánh giá của Đoàn, qua đó phát huy những việc làm được và rút ra được những hạn chế, bài học kinh nghiệm để làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.
Thay mặt cho Đoàn giám sát, ông Keith Milligan đã lắng nghe các ý kiến thảo luận của các đại biểu, đặc biệt là các huyện nằm trong vùng Dự án và trả lời những vướng mắc trong các hoạt động của Dự án tại địa phương.
Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hoàng Đình Châm đánh giá cao bản báo cáo kết quả giám sát của Đoàn bởi tính thực tế cũng như sát hợp với tình hình ở cơ sở, đồng thời cảm ơn các ý kiến tham gia đóng góp của Đoàn tại hội nghị. Đồng chí đề nghị Đoàn sẽ hoàn chỉnh lại báo cáo lần cuối trong đó cần bổ sung các ý kiến thảo luận tại hội nghị và xem xét các nguyên nhân hạn chế, tồn tại khách quan cũng như chủ quan qua đó rút kinh nghiệm cho hoạt động còn lại của Dự án. Trong thời gian tới, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng đồng tình cao với những khuyến nghị của Đoàn giám sát là sẽ tạo ra lối mở tháo gỡ những khó khăn cho tỉnh trong việc triển khai thực hiện Dự án DPPR trên địa bàn. Yêu cầu các huyện, các xã nằm trong vùng Dự án tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động của Dự án tại cơ sở để làm sao đến cuối Dự án đạt được mục tiêu cao nhất là xóa được đói, giảm được nghèo, cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần cho đồng bào nghèo trên địa bàn tỉnh.
Quỳnh Mai - Báo Hà Giang


Từ 17 đến 27 tháng 5 năm 2010, Đoàn đánh giá giám sát năm 2010 của IFAD đã đến làm việc tại dự án DPPR Hà Giang. Trưởng đoàn là ông Keith Milligan – chuyên gia về thể chế và phân cấp. Mục đích của đoàn giám sát là xem xét tiến độ thực hiện những hành động đã thống nhất kể từ cuộc đánh giá giữa kỳ và đợt giám sát năm 2009; xem xét những tiến bộ và tác động của dự án.... Ngày 17 tháng 5, Đoàn đã được nghe Ban quản lý dự án Tỉnh báo cáo kết quả thực hiện năm 2009, các khó khăn vướng mắc gặp phải trong năm. Sau đó Đoàn đã đi thăm và làm việc tại 5 xã và các thôn bản của huyện Xín Mần và Quang Bình. Ngày 27 tháng 4, đoàn sẽ có buổi họp cuối cùng để báo cáo kết quả đánh giá với UBND Tỉnh, các ngành trong tỉnh và ban quản lý dự án Tỉnh, huyện.
Thu Hằng – KMO Hà Giang

Cùng với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; từ cuối năm 2007 đến nay huyện Tiểu Cần có 4 xã: Tân Hùng, Hùng Hòa, Tân Hòa và Phú Cần được chọn làm nơi triển khai thực hiện các mục tiêu hợp phần tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho người dân thuộc Dự án cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo tỉnh Trà Vinh (IMPP)। Theo kế hoạch thì tổng mức vốn đầu tư cho mỗi xã thuộc dự án thấp nhất là 2,7 tỷ đồng (tùy thuộc vào dân số mỗi xã). Nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào 3 loại hình đó là: xây dựng cơ sở hạ tầng (cầu, đường, điện, thủy lợi, chợ…); đào tạo, tập huấn, tư vấn định hướng thị trường cho người nghèo và cấp vốn cho các nhóm phụ nữ tiết kiệm tín dụng.
Nhìn chung, nhờ được tiếp sức đầu tư của Dự án cộng với tính cần cù, năng động, nhạy bén trong sản xuất, chăn nuôi mà đời sống của nhiều bà con vùng hưởng lợi từng bước được nâng lên. Kết quả đó được xem là tiền đề để các địa phương thực hiện thành công mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới.
Đến nay, Dự án cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo (IMPP-TV) đã được triển khai trên đại bàn 30 xã thuộc 7 huyện của Trà Vinh। Dự án hỗ trợ sản xuất thuộc Chương trình 135 (CT 135) triển khai ở 26 xã thuộc 6 huyện, trong đó có 18 xã của 6 huyện được cả hai dự án IMPP-TV và CT 135 cùng triển khai. Các xã này được Ban điều phối dự án IMPP-TV xây dựng kế hoạch lồng ghép hoạt động giữa hai dự án.
Theo đó, dự án hỗ trợ sản xuất sẽ hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi,… để phát triển và chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo। Dự án IMPP-TV sẽ hỗ trợ biện pháp kỹ thuật sản xuất mới để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm (tập huấn theo phương pháp lý thuyết kết hợp thực hành), gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ…
Trà Vinh phấn đấu 100% người nghèo tham gia nhóm cộng đồng cùng ngành hàng được tập huấn nâng cao năng lực, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, tăng giá bán; 100% người nghèo được hỗ trợ giống, vật tư để tham gia mô hình।
Mạnh Dũng
Báo Người đại biểu
P.V: Xin đồng chí cho biết kết quả hơn 7 năm thực hiện dự án RIDP trên đại bàn tỉnh?
Ông Hà Văn Hoà: Dự án Đa dạng hoá thu nhập nông thôn (viết tắt là RIDP) là dự án thứ hai sử dụng nguồn vốn của Quỹ phát triển nông nghiệp Quốc tế (IFAD) trên địa bàn tỉnh. Dự án (DA) được thực thi ở 823 thôn, bản của 66 xã nghèo nhất thuộc 5 huyện của tỉnh từ năm 2002 đến năm 2009. Mục tiêu của DA là cải thiện tình hình kinh tế - xã hội những hộ gia đình nghèo, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số và phụ nữ nghèo.
DA đã triển khai các hoạt động ở cơ sở với sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Tính đến nay, DA đã thành lập 1005 nhóm tiết kiệm vay vốn với 17.866 thành viên là các hộ nghèo, tỷ lệ nữ chiếm 76%, dân tộc thiểu số chiếm 76%. Từ nguồn vốn tiết kiệm 5, 15 tỷ đồng của các thành viên cộng với hơn 36 tỷ đồng của DA đã cho 15.336 thành viên vay quay vòng. DA đã tổ chức 2.689 lớp học tại hiện trường, thu hút 51.086 lượt nông dân tham gia (nữ chiếm 63,7%, người nghèo chiếm 95%); xây dựng 442 mô hình trình diễn, trong đó có 366 mô hình triển khai tại các xã và 76 mô hình tại hai trạm trình diễn Nà Hang và Chiêm Hoá; thực hiện 13 mô hình nghiên cứu ứng dụng làm cơ sở nhân ra sản xuất đại trà như trồng đậu tương đông, các giống lúa thơm đặc sản, bảo tồn nguồn gen của cây lâm nghiệp…
DA đã đào tạo được 937 cán bộ thú y thôn bản ở 66 xã; sau đào tạo, mỗi cán bộ thú y thôn, bản được cấp một bộ dụng cụ và được vay 500 ngàn đồng mua thuốc thú y. Nhằm cải tạo đàn trâu, bò, DA đã cung cấp 312 trâu và 183 bò đực giống tốt cho các hộ gia đình. Đến nay, đã có 4.999 bê và 3.163 nghé được sinh ra, nhiều hơn so với bê nghé ngoài vùng DA. DA đã quy hoạch, cấp 40.895 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 26.153 hộ, với tổng diện tích 50.351,4ha.
DA cũng tổ chức đào tạo, dạy nghề cho các đối tượng là con em đồng bào các dân tộc và hộ nghèo, có 4.955 em đã được cấp học bổng, 3.964 em có việc làm ổn định sau đào tạo. DA đặc biệt chú trọng đến bình đẳng giới thông qua các lớp tập huấn, cung cấp vốn cho nhóm phụ nữ ở thôn bản để chị em lựa chọn và xây dựng 14.989 công trình nhỏ như giếng khơi, bể nước, chuồng lợn, sân phơi và công trình vệ sinh; mua sắm 19.928 công cụ giảm nhẹ sức lao động cho phụ nữ; hỗ trợ sách vở; quần áo cho 58.763 học sinh con các hộ nghèo, đặc biệt là các cháu gái.
DA đã nâng cao năng lực và phân cấp toàn diện cho các xã làm chủ đầu tư cấc công trình cơ sở hạ tầng. Đến cuối năm 2009 đã xây dựng được 1.525 công trình tại các thôn bản, trong đó có 813 km giao thông, 256 lớp học và nhà trẻ, 62 công trình cấp nước sinh hoạt tập chung, 32 trạm y tế, 104 km kênh mương và 112 đầu điểm công trình thuỷ lợi đầu mối.
P.V: Những lợi ích thiết thực mà Dự án RIDP mang lại?
Ông Hà Văn Hoà: Lợi ích to lớn nhất của DA là đã nâng cao năng lực cho cán bộ từ tỉnh đến thôn bản và nông dân nghèo ở địa bàn triển khai DA. Hiệu quả sản xuất đã được nâng lên rõ rệt nhờ các hoạt động đào tạo, tập huấn và chuyển giao KHKT về sản xuất nông, lâm nghiệp cho nông dân theo các phương pháp mới như tập huấn trực tiếp trên hiện trường, xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo nông dân chủ chốt. Cơ cấu giống lúa lai tăng 29%; ngô lai tăng 19%, năng suất lúa tăng trên 8%; năng suất ngô tăng 15%. Sản lượng lương thực ở các xã thực thi DA tăng 4,5%, bình quân lương thực đạt 579 kg/người/năm, tăng 72 kg so với trước khi triển khai DA. Trước đây thu nhập của bà con các xã đặc biệt khó khăn chủ yếu từ trồng trọt (lúa, ngô) nay nguồn thu đã được đa dạng hoá, bao gồm từ chăn nuôi và một số ngành nghề dịch vụ và phi nông nghiệp. Bình quân thu nhập của hộ nghèo đã tăng từ 80.000 lên 199.500 đồng/tháng, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã DA giảm 24%.
Đồng chí Đỗ Văn Chiến, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Dự án RIDP khẳng định:
Dự án RIDP với sự tài trợ nguồn vốn của IFAD, được thực hiện trên địa bàn tỉnh từ năm 2002. Dự án RIDP là một điển hình mẫu mực việc thực hiện cơ chế dân chủ ở cơ sở thông qua nguyên tắc toàn dân tham gia vào tiến trình thực thi DA, kể từ bước người dân xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đến triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá. Dự án cũng đi đầu trong việc phân cấp toàn diện cho cơ sở, đặc biệt là giao cho xã làm chủ đầu tư. Dự án có nhiều đổi mới so với các chương trình, dự án trước đây.
Ban chỉ đạo Dự án tỉnh cùng Chủ tịch IFAD thăm Qua hơn 7 năm triển khai thực hiện, Dự án đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đặt ra, trở thành mô hình điểm với nhiều sáng kiến đổi mới, xây dựng và nâng cao năng lực triển khai Dự án cho cán bộ và nhân dân, góp phần tích cực vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đặc biệt là chương trình xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, mang lại lợi ích thiết thực cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Những kinh nghiệm quý báu và cách làm thành công của dự án đã và đang được tỉnh nhân rộng để áp dụng thực hiện ở các chương trình và dự án khác.
Lợi ích thiết thực và lâu dài của DA là đã xây dựng các mô hình mẫu trong việc áp dụng các sáng kiến và cách tiếp cận mới đề giải quyết vấn đề tam nông, trọng tâm là xoá đói giảm nghèo và đa dạng hoá thu nhập. Thí dụ như mô hình nhóm tiết kiệm vay vốn bao gồm các thành viên là các hộ nghèo nhưng đã tự nguyện gửi tiền tiết kiệm hàng tháng, ngân hàng rải ngân theo nhóm, thủ tục vay đơn giản để người nghèo dễ tiếp cận với nguồn vốn vay; thành viên của nhóm tự quyết định đôí tượng được vay và thời gian vay. Ngoài ra còn có mô hình về tổ chức ở cơ sở như Ban phát triển xã, Ban phat triển thôn, bản, Nhóm quản lý vốn cải thiện đời sống phụ nữ, nhóm vận hành và bảo dưỡng công trình, đội ngũ cán bộ thú y thôn, bản. DA đã trao cho người dân quyền tự quyết định trong phát triển kinh tế của gia đình họ trên cơ sở thế mạnh của địa phương.
P.V: Thưa ông, từ kết quả thành công của dự án, có thể rút ra những kinh nghiệm gì?
Ông Hà Văn Hoà: Điều quyết định thành công của DA chính là chọn đối tượng, lấy người dân làm trung tâm để tổ chức các hoạt động của DA. Phát huy dân chủ cơ sở thông qua phương pháp có sự tham gia của toàn dân, người dân được trực tiếp tham gia từ khâu xác định nhu cầu để xây dựng kế haọch, tổ chức thực hiện, giám sát và quản lý, sử dụng, vận hành. Việc mạnh dạn phân cấp toàn diện cho cơ sở cũng là bài học khuyến khích sự tham gia và tăng cường khả năng của người dân vào quá trình phát triển cộng đồng, nâng cao năng lực cán bộ ở cơ sở.
Dự án RIDP đã đạt được những thành công, mang lại hiệu quả tốt đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ; đồng thời giúp nâng cao năng lực cho dội ngũ cán bộ thực hiện DA, đặc biệt là cán bộ ở cấp xã, thôn, bản. Những phương pháp đổi mới của DA cần được nhân rộng ra các xã khác và áp dụng vào các chương trình, dự án trong tỉnh. Việc đảm bảo tính bền vững của các hoạt động và đầu tư của DA cần được chú trọng. tiếp tục duy trì và áp dụng các mô hình thành công của DA như các nhóm tiết kiệm vay vốn, lớp học tại hiện trường, mô hình trình diễn, đào tạo thú y thôn bản…Sau khi DA kết thúc, vấn đề tiếp tục quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng các công tình và trang thiết bị do DA đầu tư cũng cần được đặc biệt quan tâm. Các cấp, các ngành chủ động và tích cực chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xây dựng và khởi động dự án mới do IFAD tài trợ.
P.V: Xin cảm ơn ông.
Duy Hùng – Báo Tuyên Quang

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh dự hội nghị tổng kết
Dự án Đa dạng hoá thu nhập nông thôn
Sau 8 năm thực hiện, Dự án RIDP đã được triển khai ở 823 thôn, bản của 66 xã nghèo thuộc 5 huyện của tỉnh. Dự án góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ từ tỉnh đến thôn bản và nông dân nghèo ở địa bàn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 17%, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm 14%, tỷ lệ trẻtrong độ tuổi vào học mẫu giáo tăng 20%. Hiệu quả sản xuất đã nâng lên rõ rệt nhờ đào tạo, tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật; cơ cấu giống lúa lai tăng 29%, năng suất lúa tăng trên 8%; ngô lai tăng 19%, năng suất ngô tăng 15%. Sản lượng lương thực ở các xã thực thi dự án tăng 4,5%, bình quân lương thực đạt 579 kg/người/năm, tăng 72 kg so với trước khi triển khai dự án. Trước đây thu nhập của bà con các xã đặc biệt khó khăn chủ yếu từ trồng trọt (lúa, ngô) nay đã được đa dạng hoá, bao gồm từ chăn nuôi và một số ngành nghề dịch vụ và phi nông nghiệp. Công tác đào tạo hệ thống thú y thôn bản đã góp phần phòng trừ dịch bệnh và nâng cao tỷ lệ tiêm phòng cho gia súc hàng năm. Phụ nữ được phát huy vai trò trong gia đình, cộng đồng và thêm cơ hội nâng cao kiến thức.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Sáng Vang trao Cờ thi đua xuất sắc
năm 2009 cho Ban phối hợp thực thi Dự án RIDP.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng đã chỉ ra một số tồn tại trong quá trình thực thi dự án đó là kinh doanh nhỏ, giao đất lâm nghiệp chưa đạt mục tiêu đề ra. Khắc phục tồn tại này, đồng chí đề nghị các cấp, ngành cần phát huy và nhân rộng những thành quả đã đạt được từ hợp phần an ninh lương thực; hợp phần giới và vốn cải thiện đời sống phụ nữ; đào tạo nhân lực, quản lý nguồn vốn, sử dụng các trang thiết bị của dự án. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 18 của tỉnh về chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, các cấp các ngành gắn kết quả DA để tổ chức thực hiện đảm bảo tính bền vững và hiệu quả.
Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Văn Chiến trao Bằng khen cho
các cá nhân tham gia dự án RIDP
Theo đề nghị của Khối nông lâm nghiệp UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc năm 2009 cho Ban phối hợp thực thi Dự án RIDP; tặng bằng khen cho 15 tập thể và 36 cá nhân tham gia dự án.
Duy Hùng – Báo Tuyên Quang
Theo quy trình ấp luôn phiên, mỗi ngày lò ấp trứng của gia đình chị cung cấp cho bà con trong xã gần 200 con vịt giống. Chị bán 10.000đồng/con vịt giống 3 ngàỳ tuổi; các hộ mang trứng đến thuê ấp thì giá 2.000đ/con. Do nguồn trứng mua về lò ấp đều là trứng vịt gốc của các gia đình tại xã Minh Hương, cộng với kinh nghiệm chọn trứng, soi trứng của chị Ngọc khi đưa vào lò ấp, nên con giống đều đảm bảo chất lượng.
Chị Ngọc bên đàn vịt mới nở
Chị Ngọc cho biết, gia đình chị mới đầu tư 10 triệu đồng mua tiếp lò ấp trứng thứ 2 để làm dịch vụ phục vụ bà con chăn nuôi gia cầm. Theo các hộ chăn nuôi vịt trên địa bàn xã nhu cầu tiêu dùng vịt Minh Hương trên thị trường khá lớn, nhưng cách thức chăn nuôi hiện nay còn nhỏ lẻ nên không có đủ vịt để bán. Gia đình anh Nguyễn Văn Sử, thôn 12 mới mua 100 con vịt giống, sau 5 tháng nuôi mỗi con đạt trọng lượng từ 2,2 – 2,5kg, xuất bán thu về hơn 10 triệu đồng.
Sự hỗ trợ của Dự án RIDP đã giúp nông dân xã Minh Hương thay đổi cách nghĩ, cách làm. Trước đây, bà con trong xã chăn nuôi vịt để tiêu dùng, nay các hộ chuyển sang chăn nuôi hàng hoá nên nhu cầu con giống tăng. Việc đầu tư xây lò ấp trứng của chị Ngọc đã mở hướng khai thác tiềm năng, phát triển chăn nuôi vịt tạo sản phẩm cung câp cho thị trường.
Đàn vịt Minh Hương đang lớn dần
Vịt Minh Hương có đặc điểm màu lông hoa văn sặc sỡ, cổ ngắn, chân ngắn, da vàng, xương nhỏ thịt thơm, ngon đã tạo được thương hiệu trên thị trường. Với giá bán bình quân 130.000đ/con (65.000đ/kg), người dân có thể ổn định thu nhập từ chăn nuôi vịt. Điều quan trọng và ý nghĩa với người dân trong xã là từ khi có lò ấp trứng tại thôn, chủ lò ấp đã thực hiện việc mua gom trứng hoặc các hộ mang trứng đến thuê ấp; qua đó bảo tồn được nguồn gen quý hiếm của giống vịt Minh Hương.
Hà Minh – Báo Tuyên Quang



