Pages



Ngày 23/7/2010, UBND tỉnh đã tổ chức hội thảo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh với sự tham dự của đại biểu ban ngành liên quan trong tỉnh, đại diện Hội doanh nghiệp và một số doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, Ban quản lý dự án phát triển kinh doanh với người nghèo, dự ỏn hỗ trợ kỹ thuật Lux Development, dự án Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI), lãnh đạo Phòng Công thương và Thương mại Việt nam(VCCI) và lónh đạo 10 huyện dự án . Ông Nông Văn Páo-Phó chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội thảo. (Đ/c Nông Văn Páo- Phó chủ tịch UBND phát biểu khai mạc)
Hội thảo nhằm phân tích, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất biện pháp nâng cao hơn nữa chỉ số cạnh tranh của tỉnh (PCI). PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, thu hút đầu tư. Thông qua chỉ số giỏ tiờu dựng (CPI) là điều kiện để các doanh nghiệp quan tâm tham khảo, xây dựng chiến lược phát triển đầu tư, kinh doanh.

Tại hội thảo, các đại biểu đã được giới thiệu hợp phần I của dự án án phát triển kinh doanh với người nghèo và dự án VIE-029 trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh; chuyên gia Phòng Thương mại và Công Thương VN và dự án Năng lực cạnh tranh VN giới thiệu về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh(PCI) và tầm quan trọng của PCI đối với công tác quản lý kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cấp tỉnh, đánh giá phân tích chỉ số cạnh tranh của tỉnh trong những năm qua. Là một tỉnh miền núi, liên tục trong nhiều năm qua, tỉnh Cao Bằng đã thực hiện nhiều chính sách cải cách, đổi mới chú trọng vào các tiêu chí quan trọng, tuy nhiên chỉ số CPI của tỉnh chưa có sự thay đổi đáng kể dù là tỉnh có nhiều tiềm năng. Theo đánh giá nguyên nhân do chưa năng động trong việc khai thác nguồn lực và thiếu sự linh hoạt trong điều hành kinh tế, vì vậy nên năm 2009 Cao Bằng tiếp tục là tỉnh đứng vào hàng thấp nhất cả nước về chỉ số cạnh tranh, trong đó đặc biệt là các chỉ số về tính năng động, chi phí thời gian, gia nhập thị trường, tính minh bạch, thiết chế pháp lý và tiếp cận thông tin, đất đai.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các thành phần trong kết quả xếp hạng PCI của tỉnh, các đại biểu đã có nhiều ý kiến phát biểu, thảo luận, tập trung đề xuất giải pháp liên quan đến từng ngành, từng lĩnh vực nhằm phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những vấn đề còn tồn tại.

Đây là hội thảo có tính chất quan trọng, ông Rudi cố vấn trưởng dự ỏn hỗ trợ kỹ thuật LuxDevelopment đánh giá rất cao hội thảo lần này và cam kết sẽ tiến hành phối hợp cùng tỉnh xây dựng kế hoạch hành động và triển khai việc lập kế hoạch trong thời gian sớm nhất.

Ông Nông văn Páo-Phó chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu các ban ngành cần phối hợp xây dựng kế hoạch hành động, tập trung cải cách các lĩnh vực còn yếu kém, khẩn trương triển khai các biện pháp cụ thể trong thời gian tới, kết hợp tăng cường truyền bá thông tin để tạo điều kiện tốt nhất cho việc thu hút đầu tư tại tỉnh, cải thiện chỉ số cạnh tranh xứng với tiềm năng địa phương./.

Đam Ly – Phóng viên đài truyền hình Cao Bằng
Thực tế triển khai Dự án cho thấy, tại các xã dự án sản xuất nông nghiệp đa phần nhỏ lẻ, giá bán và thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, nông dân không liên kết được thị trường để tiêu thụ sản phẩm nên không yên tâm sản xuất. Để tháo gỡ những khó khăn trên, Dự án tập trung hỗ trợ người nghèo tham gia vào các loại thị trường để thoát nghèo bền vững và phát triển kinh tế tập thể.Dự án tập trung phát triển nhóm cộng đồng cùng mục tiêu (CĐCMT)/tổ hợp tác (THT) để giúp nông dân dễ dàng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, tham quan học tập kinh nghiệm, sản xuất với quy mô lớn và kiểm soát được chất lượng để liên kết thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng.
Để phát triển kinh tế tập thể bền vững, ngoài việc người nông dân có nhận thức đúng để tự giác, tự nguyện tham gia, thì vai trò hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể trong việc tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân là một yếu tố cơ bản trong quá trình thực hiện.
Nhận thức được điều này, Dự án đã tổ chức 140 lớp tập huấn cho các nhóm CĐCMT với hơn 3.900 người dự; 80 lớp tập huấn cho cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể xã, ấp với 2.400 người dự, cung cấp kiến thức cơ bản về thị trường, chuỗi giá trị và Nghị định 151/NĐ-CP. Sau tập huấn, các nhóm CĐCMT nhận thức được lợi ích khi tham gia THT, tự nguyện thành lập 62 THT theo Nghị định 151/NĐ-CP đã được UBND xã xác nhận hợp đồng hợp tác, số còn lại đang chuẩn bị thành lập.
Ngoài ra, Dự án còn tổ chức 11 lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho 76 tổ/nhóm với 350 thành viên. Đồng thời, hợp đồng với các cán bộ có kinh nghiệm chăm sóc các THT/nhóm CĐCMT theo hình thức cầm tay chỉ việc giúp tổ/nhóm phát triển bền vững.
Việc tiêu thụ sản phẩm qua hợp đồng giữa THT/nhóm CĐCMT và doanh nghiệp với giá bán cao hơn giá thị trường luôn là niềm mong đợi của các tổ/nhóm. Đến tháng 03/2010, 60 tổ/nhóm (có hơn 1.650 thành viên) liên kết tiêu thụ trên 4.800 tấn sản phẩm gồm: lúa, bắp, đậu phộng, nấm rơm,…với 21 doanh nghiệp/HTX/cơ sở thu mua. Qua đó, giá bán giống cao hơn 30%, giá bán thương phẩm cao từ 2 – 10% so với giá thị trường tại thời điểm. Hiện tại, ngoài việc liên kết đầu ra để tiêu thụ sản phẩm, một số THT/nhóm CĐCMT còn hợp đồng để mua vật tư nông nghiệp đầu vào với giá thấp.
Bài học mà Dự án rút ra trong quá trình hình thành và phát triển THT/nhóm CĐCMT theo hướng bền vững là: lợi ích kinh tế của các thành viên phải được đảm bảo khi tham gia vào tổ/nhóm; các thành viên có cùng sở thích, mục tiêu, tin tưởng lẫn nhau là điều kiện thuận lợi khi thành lập tổ/nhóm; năng lực của tổ trưởng quyết định sự thành công của tổ/nhóm. Sự thống nhất nhận thức về vai trò quan trọng của kinh tế tập thể và xác định trách nhiệm cụ thể của các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế tập thể là đặc biệt quan trọng.
Đoàn đánh giá giữa kỳ của IFAD vào tháng 01/2010 khẳng định Dự án đi đúng hướng và thừa nhận đây là một trong những thành công của Dự án.
Hướng tới, Dự án sẽ phối hợp với Liên minh Hợp tác xã của Cộng hòa Liên bang Đức (DGRV) tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng, xây dựng nội dung nâng cao năng lực và quy trình phát triển kinh tế tập thể bền vững cho tỉnh Trà Vinh■

Bà Trần Thị Viễn – Giám đốc dự án IMPP_TV


0

Ngày 14/07/2010, Đoàn giám sát dự án IFAD Việt Nam đã làm việc với Ban Quản lý dự án IFAD tại Bắc Kạn. Tham dự buổi làm việc có đồng chí Hoàng Ngọc Đường - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, bà Atsuko Toda - Giám đốc chương trình Quốc gia IFAD Việt Nam, lãnh đạo các sở ngành liên quan và đại diện các huyện được triển khai dự án gồm: Ba Bể, Pác Nặm, Na Rỳ.

Các đại biểu dự buổi làm việc đã nghe ông Hoàng Văn Giáp - Giám đốc dự án 3PAD báo cáo năm đầu thực hiện tại Bắc Kạn. Sau một năm triển khai dự án tại Bắc Kạn, dự án 3PAD đã thu được một số kết quả, cụ thể: Dự án đã hoàn thành các điều kiện bắt buộc như: Bổ nhiệm giám đốc, thành lập Ban Quản lý dự án, Ban chỉ đạo dự án, hoàn thành các điều kiện giải ngân. Bên cạnh đó, dự án đã tổ chức 13 cuộc hội thảo; tiến hành đào tạo, tập huấn 64 lớp cho 1.686 học viên; Lập kế hoạch có sự tham gia của người dân cho 11 xã thí điểm về phần xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng số 29 công trình, dự toán số kinh phí ban đầu là 6.955 tỷ đồng. Các công trình này chủ yếu là kênh mương thủy lợi, đường vào khu sản xuất và nước sinh hoạt.

Đại diện Đoàn giám sát dự án IFAD Việt Nam, bà Atsuko Toda bày tỏ vui mừng khi dự án được triển khai tại Bắc Kạn, đánh giá cao công tác chuẩn bị kỹ lưỡng của Ban Quản lý dự án, đồng thời hi vọng sự cộng tác của Đoàn giám sát IFAD Việt Nam có thể trợ giúp cho Ban Quản lý dự án tại Bắc Kạn làm việc toàn diện hơn, hiệu quả hơn.

Đại diện các huyện, các sở ngành có liên quan đã đóng góp ý kiến tại buổi làm việc, đa phần đều đánh giá cao hiệu quả bước đầu của dự án tại Bắc Kạn; trong thời gian tới, các đơn vị sẽ phối hợp với Ban Quản lý dự án để thực hiện tốt theo chương trình kế hoạch dự án.

Phát biểu tại buổi làm việc đồng chí Hoàng Ngọc Đường khẳng định: Dự án là một mẫu hình tốt của việc trồng rừng, phát triển cây con đặc sản, giảm nghèo nhanh bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Dự án sẽ tạo điều kiện chuyển đổi từ cơ chế tự cung tự cấp sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần đổi mới nông thôn, là con đường phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn”.

Thúy Hà - KMO