Pages

0

Ông Trần Hoàn Kim - Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Tư vấn quản lý dự án phát biểu chỉ đạo hội nghị

Sáng ngày 07/01/2011 tại Khách sạn Cửu Long II, Ban Điều phối Dự án IMPP- TV tổ chức hội nghị tổng kết năm 2010, triển khai kế hoạch công tác và ngân sách năm 2011. Đến dự và chỉ đạo hội nghị có Ông Trần Hoàn Kim, Chủ tịch UBND tỉnh - Trưởng Ban tư vấn quản lý Dự án tỉnh, Bà Sơn Thị Ánh Hồng - Phó chủ tịch UBND tỉnh, Ông Huỳnh Văn Tảo - Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư đồng phó Ban Tư vấn quản lý Dự án tỉnh và trên 150 đại biểu là thành viên BTVQLDA, đại diện lãnh đạo Sở ngành tỉnh có liên quan; cán bộ, chuyên gia Dự án IMPP, PARA, Nhóm hỗ trợ Dự án huyện xã, Phòng Tài chính- KH, Kho bạc Nhà nước huyện.

Theo báo cáo, năm 2010 Dự án tiếp tục được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Tư vấn quản lý dự án tỉnh, sự hỗ trợ và phối hợp tích cực từ các Sở ngành tỉnh có liên quan, sự năng động của tập thể cán bộ dự án các cấp, sự hỗ trợ kỹ thuật của Dự án PARA. Dự án IMPP-TV đã hoàn thành kế hoạch công tác, giải ngân trên 82 tỉ đồng, đạt 102%, cao nhất từ năm 2007 đến nay.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị Ông Trần Hoàn Kim, Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những kết quả mà Dự án IMPP đã đạt được trong năm qua, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội tỉnh nhà. Tuy nhiên, năm 2011 là năm chuẩn bị kết thúc Dự án. Trong điều hành Ban Điều phối dự án, Nhóm hỗ trợ dự án huyện, xã cần lưu tâm các bài học kinh nghiệm đã được Dự án rút ra trong năm qua, tạo sự chuyển biến đồng bộ, bước đi nhịp nhàng hơn giữa các Bộ phận/hợp phần, giữa các xã dự án, chú trọng các hoạt động nâng cao năng lực không chỉ đơn thuần về chuyên môn mà phải tạo được ý thức, tầm nhìn, trách nhiệm địa phương trước công việc, thực hiện tốt công tác quyết toán vốn đầu tư; đẩy mạnh hoạt động liên kết thị trường giúp nông dân đạt được hiệu quả cao nhất trong đầu tư; tăng thời gian thực hành trong hoạt động đào tạo nghề; lồng ghép tốt các nguồn lực, nhất là các xã xây dựng nông thôn mới để phát huy hiệu quả đầu tư…

Nhân dịp này, Giám đốc Dự án tặng giấy khen cho 12 tập thể: Nhóm hỗ trợ dự án 5 xã, Phòng Tài chính- KH 04 huyện, Kho bạc Nhà nước 3 huyện và 11 cá nhân là Trưởng nhóm dự án huyện, cán bộ Dự án xã hoàn thành tốt nhiệm vụ và hỗ trợ dự án trong lĩnh vực XDCB và thanh toán vốn đầu tư năm 2010.


Huỳnh Nghĩa Thọ - Phó GĐ Dự án



Ngày 23/7/2010, UBND tỉnh đã tổ chức hội thảo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh với sự tham dự của đại biểu ban ngành liên quan trong tỉnh, đại diện Hội doanh nghiệp và một số doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, Ban quản lý dự án phát triển kinh doanh với người nghèo, dự ỏn hỗ trợ kỹ thuật Lux Development, dự án Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI), lãnh đạo Phòng Công thương và Thương mại Việt nam(VCCI) và lónh đạo 10 huyện dự án . Ông Nông Văn Páo-Phó chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội thảo. (Đ/c Nông Văn Páo- Phó chủ tịch UBND phát biểu khai mạc)
Hội thảo nhằm phân tích, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất biện pháp nâng cao hơn nữa chỉ số cạnh tranh của tỉnh (PCI). PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, thu hút đầu tư. Thông qua chỉ số giỏ tiờu dựng (CPI) là điều kiện để các doanh nghiệp quan tâm tham khảo, xây dựng chiến lược phát triển đầu tư, kinh doanh.

Tại hội thảo, các đại biểu đã được giới thiệu hợp phần I của dự án án phát triển kinh doanh với người nghèo và dự án VIE-029 trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh; chuyên gia Phòng Thương mại và Công Thương VN và dự án Năng lực cạnh tranh VN giới thiệu về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh(PCI) và tầm quan trọng của PCI đối với công tác quản lý kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cấp tỉnh, đánh giá phân tích chỉ số cạnh tranh của tỉnh trong những năm qua. Là một tỉnh miền núi, liên tục trong nhiều năm qua, tỉnh Cao Bằng đã thực hiện nhiều chính sách cải cách, đổi mới chú trọng vào các tiêu chí quan trọng, tuy nhiên chỉ số CPI của tỉnh chưa có sự thay đổi đáng kể dù là tỉnh có nhiều tiềm năng. Theo đánh giá nguyên nhân do chưa năng động trong việc khai thác nguồn lực và thiếu sự linh hoạt trong điều hành kinh tế, vì vậy nên năm 2009 Cao Bằng tiếp tục là tỉnh đứng vào hàng thấp nhất cả nước về chỉ số cạnh tranh, trong đó đặc biệt là các chỉ số về tính năng động, chi phí thời gian, gia nhập thị trường, tính minh bạch, thiết chế pháp lý và tiếp cận thông tin, đất đai.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các thành phần trong kết quả xếp hạng PCI của tỉnh, các đại biểu đã có nhiều ý kiến phát biểu, thảo luận, tập trung đề xuất giải pháp liên quan đến từng ngành, từng lĩnh vực nhằm phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những vấn đề còn tồn tại.

Đây là hội thảo có tính chất quan trọng, ông Rudi cố vấn trưởng dự ỏn hỗ trợ kỹ thuật LuxDevelopment đánh giá rất cao hội thảo lần này và cam kết sẽ tiến hành phối hợp cùng tỉnh xây dựng kế hoạch hành động và triển khai việc lập kế hoạch trong thời gian sớm nhất.

Ông Nông văn Páo-Phó chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu các ban ngành cần phối hợp xây dựng kế hoạch hành động, tập trung cải cách các lĩnh vực còn yếu kém, khẩn trương triển khai các biện pháp cụ thể trong thời gian tới, kết hợp tăng cường truyền bá thông tin để tạo điều kiện tốt nhất cho việc thu hút đầu tư tại tỉnh, cải thiện chỉ số cạnh tranh xứng với tiềm năng địa phương./.

Đam Ly – Phóng viên đài truyền hình Cao Bằng
Thực tế triển khai Dự án cho thấy, tại các xã dự án sản xuất nông nghiệp đa phần nhỏ lẻ, giá bán và thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, nông dân không liên kết được thị trường để tiêu thụ sản phẩm nên không yên tâm sản xuất. Để tháo gỡ những khó khăn trên, Dự án tập trung hỗ trợ người nghèo tham gia vào các loại thị trường để thoát nghèo bền vững và phát triển kinh tế tập thể.Dự án tập trung phát triển nhóm cộng đồng cùng mục tiêu (CĐCMT)/tổ hợp tác (THT) để giúp nông dân dễ dàng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, tham quan học tập kinh nghiệm, sản xuất với quy mô lớn và kiểm soát được chất lượng để liên kết thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng.
Để phát triển kinh tế tập thể bền vững, ngoài việc người nông dân có nhận thức đúng để tự giác, tự nguyện tham gia, thì vai trò hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể trong việc tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân là một yếu tố cơ bản trong quá trình thực hiện.
Nhận thức được điều này, Dự án đã tổ chức 140 lớp tập huấn cho các nhóm CĐCMT với hơn 3.900 người dự; 80 lớp tập huấn cho cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể xã, ấp với 2.400 người dự, cung cấp kiến thức cơ bản về thị trường, chuỗi giá trị và Nghị định 151/NĐ-CP. Sau tập huấn, các nhóm CĐCMT nhận thức được lợi ích khi tham gia THT, tự nguyện thành lập 62 THT theo Nghị định 151/NĐ-CP đã được UBND xã xác nhận hợp đồng hợp tác, số còn lại đang chuẩn bị thành lập.
Ngoài ra, Dự án còn tổ chức 11 lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho 76 tổ/nhóm với 350 thành viên. Đồng thời, hợp đồng với các cán bộ có kinh nghiệm chăm sóc các THT/nhóm CĐCMT theo hình thức cầm tay chỉ việc giúp tổ/nhóm phát triển bền vững.
Việc tiêu thụ sản phẩm qua hợp đồng giữa THT/nhóm CĐCMT và doanh nghiệp với giá bán cao hơn giá thị trường luôn là niềm mong đợi của các tổ/nhóm. Đến tháng 03/2010, 60 tổ/nhóm (có hơn 1.650 thành viên) liên kết tiêu thụ trên 4.800 tấn sản phẩm gồm: lúa, bắp, đậu phộng, nấm rơm,…với 21 doanh nghiệp/HTX/cơ sở thu mua. Qua đó, giá bán giống cao hơn 30%, giá bán thương phẩm cao từ 2 – 10% so với giá thị trường tại thời điểm. Hiện tại, ngoài việc liên kết đầu ra để tiêu thụ sản phẩm, một số THT/nhóm CĐCMT còn hợp đồng để mua vật tư nông nghiệp đầu vào với giá thấp.
Bài học mà Dự án rút ra trong quá trình hình thành và phát triển THT/nhóm CĐCMT theo hướng bền vững là: lợi ích kinh tế của các thành viên phải được đảm bảo khi tham gia vào tổ/nhóm; các thành viên có cùng sở thích, mục tiêu, tin tưởng lẫn nhau là điều kiện thuận lợi khi thành lập tổ/nhóm; năng lực của tổ trưởng quyết định sự thành công của tổ/nhóm. Sự thống nhất nhận thức về vai trò quan trọng của kinh tế tập thể và xác định trách nhiệm cụ thể của các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế tập thể là đặc biệt quan trọng.
Đoàn đánh giá giữa kỳ của IFAD vào tháng 01/2010 khẳng định Dự án đi đúng hướng và thừa nhận đây là một trong những thành công của Dự án.
Hướng tới, Dự án sẽ phối hợp với Liên minh Hợp tác xã của Cộng hòa Liên bang Đức (DGRV) tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng, xây dựng nội dung nâng cao năng lực và quy trình phát triển kinh tế tập thể bền vững cho tỉnh Trà Vinh■

Bà Trần Thị Viễn – Giám đốc dự án IMPP_TV


0

Ngày 14/07/2010, Đoàn giám sát dự án IFAD Việt Nam đã làm việc với Ban Quản lý dự án IFAD tại Bắc Kạn. Tham dự buổi làm việc có đồng chí Hoàng Ngọc Đường - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, bà Atsuko Toda - Giám đốc chương trình Quốc gia IFAD Việt Nam, lãnh đạo các sở ngành liên quan và đại diện các huyện được triển khai dự án gồm: Ba Bể, Pác Nặm, Na Rỳ.

Các đại biểu dự buổi làm việc đã nghe ông Hoàng Văn Giáp - Giám đốc dự án 3PAD báo cáo năm đầu thực hiện tại Bắc Kạn. Sau một năm triển khai dự án tại Bắc Kạn, dự án 3PAD đã thu được một số kết quả, cụ thể: Dự án đã hoàn thành các điều kiện bắt buộc như: Bổ nhiệm giám đốc, thành lập Ban Quản lý dự án, Ban chỉ đạo dự án, hoàn thành các điều kiện giải ngân. Bên cạnh đó, dự án đã tổ chức 13 cuộc hội thảo; tiến hành đào tạo, tập huấn 64 lớp cho 1.686 học viên; Lập kế hoạch có sự tham gia của người dân cho 11 xã thí điểm về phần xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng số 29 công trình, dự toán số kinh phí ban đầu là 6.955 tỷ đồng. Các công trình này chủ yếu là kênh mương thủy lợi, đường vào khu sản xuất và nước sinh hoạt.

Đại diện Đoàn giám sát dự án IFAD Việt Nam, bà Atsuko Toda bày tỏ vui mừng khi dự án được triển khai tại Bắc Kạn, đánh giá cao công tác chuẩn bị kỹ lưỡng của Ban Quản lý dự án, đồng thời hi vọng sự cộng tác của Đoàn giám sát IFAD Việt Nam có thể trợ giúp cho Ban Quản lý dự án tại Bắc Kạn làm việc toàn diện hơn, hiệu quả hơn.

Đại diện các huyện, các sở ngành có liên quan đã đóng góp ý kiến tại buổi làm việc, đa phần đều đánh giá cao hiệu quả bước đầu của dự án tại Bắc Kạn; trong thời gian tới, các đơn vị sẽ phối hợp với Ban Quản lý dự án để thực hiện tốt theo chương trình kế hoạch dự án.

Phát biểu tại buổi làm việc đồng chí Hoàng Ngọc Đường khẳng định: Dự án là một mẫu hình tốt của việc trồng rừng, phát triển cây con đặc sản, giảm nghèo nhanh bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Dự án sẽ tạo điều kiện chuyển đổi từ cơ chế tự cung tự cấp sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần đổi mới nông thôn, là con đường phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn”.

Thúy Hà - KMO

Đối với huyện vùng cao Đồng Văn (Hà Giang), nguyên nhân dẫn đến sản xuất nông nghiệp phát triển chậm là do một số nguyên nhân như: thiếu đất sản xuất; năng lực canh tác của người dân còn hạn chế; điều kiện kinh tế hạn hẹp ảnh hưởng đến việc đầu tư thâm canh, mua giống cây trồng mới, thiết bị sản xuất tiên tiến…

Để khắc phục một phần khó khăn cho người dân vùng cao, Dự án DPPR huyện Đồng Văn đã triển khai, thực hiện Tiểu hợp phần “Phát triển hệ thống canh tác vùng cao”. Trong 5 năm qua, những hoạt động của Tiểu hợp phần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tế của người dân nên khi triển khai được người dân đón nhận nhiệt tình. Kết quả đạt được có ý nghĩa rất lớn, góp phần nâng cao thu nhập, năng lực sản xuất cho người dân.

Mục tiêu của Tiểu Hợp phần đó là: Cung cấp, hỗ trợ để nâng cao thu nhập, năng lực sản xuất cho người dân ở khu vực thực hiện dự án, mục đích nhằm cải thiện tình hình an ninh lương thực hộ gia đình và đa dạng hoá thu nhâp theo cách bền vững. Phương pháp thực hiện đó là: Lấy hộ gia đình làm đơn vị thực hiện, trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ phụ nữ, hộ dân tộc thiểu số. Dự án cho vay hoặc hỗ trợ một phần kinh phí hay toàn bộ kinh phí để các hộ thực hiện mô hình sản xuất. Trong quá trình thực hiện người dân đóng góp một phần kinh phí và công lao động. Ngoài hoạt động xây dựng mô hình sản xuất, Tiểu hợp phần cũng giành nhiều kinh phí để thực hiện hoạt động tập huấn nâng cao trình độ sản xuất cho người dân, đồng thời hỗ trợ cây giống và dụng cụ sản xuất cho người dân. Tất cả những hoạt động của Tiểu hợp phần đều rất có ý nghĩa đối với đồng bào vùng cao Đồng Văn bởi những hoạt động đó giải quyết cơ bản những khó khăn, hạn chế trong sản xuất ở vùng cao. Do đó, BQL Dự án huyện, xã tích cực triển khai, người dân đồng tình ủng hộ nên Tiểu hợp phần này luôn đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Qua 5 năm triển khai, Dự án đã tổ chức được 52 lớp tập huấn cho gần 2.000 lượt người là cán bộ khuyến nông, thú ý xã, thôn và người dân vùng thực hiện Dự án. Các lớp tập huấn tập trung chính vào việc đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật mới trong sản xuất nông, lầm nghiệp, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản sản phẩm nông sản. Do các lớp tập huấn cũng như nội dung đào tạo được thực hiện theo đề xuất của người dân trong các cuộc xây dựng kế hoạch hàng năm nên các lớp tập huấn, nội dung tập huấn đều được các học viên tham gia đón nhận tích cực, phát huy được hiệu quả, mục đích. Dự án cũng đã triển khai thêm hình thức tuyên truyền kỹ thuật sản xuất đến người dân thông qua các buổi chiếu video tại thôn, bản. Nội dung phim vừa tuyên truyền những kết quả của Dự án trên địa bàn huyện, vừa đưa chi tiết về những mô hình đã được triển khai hiệu quả trên địa bàn...

Đi đôi với việc tập huấn nâng cao năng lực, Dự án cũng đã quan tâm đến việc hỗ trợ cây giống, dụng cụ sản xuất cho người dân. 5 năm qua, Dự án đã cung cấp 4.846 cây lê đường Đài Loan; 2.375 cây đào đỏ Trung Quốc; 1.985 kg giống khoai lang; hỗ trợ trên 200 nghìn giống câu thông, sa mộc, mỡ cho người dân các xã phát triển rừng. Dự án cũng đã hỗ trợ cho người dân dụng cụ sản xuất như: 772 thùng si lô; 217 bình phun thuốc trừ sâu; 648 máy tẽ ngô quay tay và nhiều dụng cụ khác cho hàng nghìn hộ nghèo sử dụng. Các dụng cụ này đều phát huy được hiệu quả đối với cuộc sống lao động sản xuất của người dân bởi nó được hỗ trợ theo nhu cầu thực tế.

Việc xây dựng các mô hình trình diễn trong sản xuất nông nghiệp cũng được Dự án quan tâm. Đến nay, Dự án thực hiện tổng cộng 18 mô hình, trong đó có mô hình thử nghiệm giống đậu tương DT96 và sản xuất giống đậu tương DT84; mô hình hướng dẫn chăm sóc bón phân lần 1, lần 2 đối với ngô lai, ngô địa phương; mô hình trồng cỏ giống mới VA06...Các mô hình sau khi tổng kết đã thu được thành công rất cao, trong đó nhiều mô hình đã có ý nghĩa nhân rộng quy mô sản xuất như mô hình bón phân lần 1, lần 2 cho cây ngô, mô hình trồng cỏ giống mới VA06 tại xã Vần Chải. Với mô hình trồng cỏ VA06, đây là giống cỏ mới, lần đầu tiên được trồng trên địa bàn huyện, mới đầu diện tích chỉ có 0,5 ha. Với ưu thế về chất lượng, năng xuất cao hơn hẳn so với giống cỏ Voi, Goatemala nên sau khi tổng kết mô hình các hộ dân trong xã đã nhân rộng diện tích cỏ VA06 lên vài chục ha, không chỉ ở xã mà người dân trên địa bàn toàn huyện cũng chuyển đổi từ trồng cỏ Voi sang trồng giống cỏ năng suất, chất lượng này. Hiện tại, trên địa bàn huyện có trên 200 ha cỏ VA06.

Hoạt động của Tiểu hợp phần “Phát triển hệ thống canh tác vùng cao” của Dự án DPPR huyện có ý nghĩa rất lớn đối với người dân vùng cao Đồng Văn, nó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo cho dân một cách bền vững.


KHÁNH TOÀN - BÁO HÀ GIANG

Sáng 27.5, UBND tỉnh Hà Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết Đoàn đánh giá hàng năm của IFAD về Dự án DPPR.

Đồng chí Hoàng Đình Châm, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo các dự án ODA của tỉnh dự và chủ trì hội nghị. Cùng dự về phía tỉnh ta có các đồng chí thành viên Ban chỉ đạo Dự án tỉnh; lãnh đạo Ban quản lý Dự án DPPR tỉnh, Ban quản lý Dự án DPPR các huyện gồm Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Xín Mần, Quang Bình. Về phía Đoàn giám sát của IFAD có ông Keith Milligan làm Trưởng đoàn cùng các thành viên trong đoàn.

Hội nghị đã được nghe Đoàn giám sát của IFAD báo cáo công tác giám sát kết quả hoạt động của Dự án DPPR năm 2009 trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Báo cáo khẳng định: Đợt đánh giá này nhằm mục đích xác định thế mạnh và những mặt còn hạn chế, thảo luận cơ hội nâng cao trình độ tác nghiệp của Dự án; tổng kết thành tựu đạt được trong phân cấp quản lý các hoạt động Dự án, củng cố các thành quả đã đạt được thông qua kế hoạch nhân rộng cả trong thời gian còn lại của Dự án; duy trì xóa đói giảm nghèo và an ninh lương thực cho nông dân... Theo đó, qua đánh giá cho thấy, nhìn chung Dự án đã đạt được hơn 70% chỉ số các mục tiêu trong ngân sách kế hoạch hoạt động năm 2009. Tỷ lệ đói nghèo ở 45 xã dự án từ từ thuyên giảm đều trong 3 năm qua. Số các hộ gia đình chuyển từ rất nghèo lên nghèo và số hộ nghèo lên khá đã ngày càng nhiều, đưa tỷ lệ nghèo chung giảm từ 63% xuống còn 35% ở các xã mục tiêu. Có khoảng 15.000 hộ gia đình đã nhận được các dịch vụ do Dự án tài trợ. Những tác động lớn mà Dự án đem lại đó là phát triển được các tổ chức ở cấp cơ sở, đặc biệt là các Nhóm Tín dụng – Tiết kiệm; ứng dụng thành công các mô hình sản xuất chi phí tương đối thấp cho nông dân, thể hiện rõ mức tăng thu nhập và cải thiện an ninh lương thực; cơ sở hạ tầng thôn bản thông qua quyền làm chủ đầu tư được phân cấp cho xã; củng cố năng lực chính quyền cấp cơ sở thông qua sự phân cấp; tăng cường dân chủ cơ sở thông qua phát triển các tổ chức cộng đồng đặc biệt là nhóm giám sát cộng đồng...

Thảo luận tại hội nghị, các đại biểu đều đồng tình cao với báo cáo đánh giá của Đoàn, qua đó phát huy những việc làm được và rút ra được những hạn chế, bài học kinh nghiệm để làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Thay mặt cho Đoàn giám sát, ông Keith Milligan đã lắng nghe các ý kiến thảo luận của các đại biểu, đặc biệt là các huyện nằm trong vùng Dự án và trả lời những vướng mắc trong các hoạt động của Dự án tại địa phương.

Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hoàng Đình Châm đánh giá cao bản báo cáo kết quả giám sát của Đoàn bởi tính thực tế cũng như sát hợp với tình hình ở cơ sở, đồng thời cảm ơn các ý kiến tham gia đóng góp của Đoàn tại hội nghị. Đồng chí đề nghị Đoàn sẽ hoàn chỉnh lại báo cáo lần cuối trong đó cần bổ sung các ý kiến thảo luận tại hội nghị và xem xét các nguyên nhân hạn chế, tồn tại khách quan cũng như chủ quan qua đó rút kinh nghiệm cho hoạt động còn lại của Dự án. Trong thời gian tới, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng đồng tình cao với những khuyến nghị của Đoàn giám sát là sẽ tạo ra lối mở tháo gỡ những khó khăn cho tỉnh trong việc triển khai thực hiện Dự án DPPR trên địa bàn. Yêu cầu các huyện, các xã nằm trong vùng Dự án tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động của Dự án tại cơ sở để làm sao đến cuối Dự án đạt được mục tiêu cao nhất là xóa được đói, giảm được nghèo, cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần cho đồng bào nghèo trên địa bàn tỉnh.


Quỳnh Mai - Báo Hà Giang


Từ 17 đến 27 tháng 5 năm 2010, Đoàn đánh giá giám sát năm 2010 của IFAD đã đến làm việc tại dự án DPPR Hà Giang. Trưởng đoàn là ông Keith Milligan – chuyên gia về thể chế và phân cấp. Mục đích của đoàn giám sát là xem xét tiến độ thực hiện những hành động đã thống nhất kể từ cuộc đánh giá giữa kỳ và đợt giám sát năm 2009; xem xét những tiến bộ và tác động của dự án.... Ngày 17 tháng 5, Đoàn đã được nghe Ban quản lý dự án Tỉnh báo cáo kết quả thực hiện năm 2009, các khó khăn vướng mắc gặp phải trong năm. Sau đó Đoàn đã đi thăm và làm việc tại 5 xã và các thôn bản của huyện Xín Mần và Quang Bình. Ngày 27 tháng 4, đoàn sẽ có buổi họp cuối cùng để báo cáo kết quả đánh giá với UBND Tỉnh, các ngành trong tỉnh và ban quản lý dự án Tỉnh, huyện.


Thu Hằng – KMO Hà Giang